Tại sao bị giãn tĩnh mạch chân? hậu quả?
Tĩnh mạch chân còn gọi là hệ tĩnh mạch chi dưới, gồm có hai hệ:
Hệ tĩnh mạch mônglà các tĩnh mạch nằm ngoài gần lớp cơ (là mô liên kết bao quanh các bắp cơ).
Hệ tĩnh mạch sâunằm bên trong lớp gân cơ này.
Giữa hai hệ này, có một hệ tĩnh mạch xuyên qua một lớp gân cơ, nối thông chúng với nhau, gọi là hệ tĩnh mạch xuyên. Có 3 vị trí tĩnh mạch xuyên: ở đùi, ở bắp chuối và mắt cá chân.
Hệ tĩnh mạch chân có hai chức năng chính: một là đưa máu trở về tim, hai là điều hoà lượng máu bằng cách lưu trữ hay nhả máu trở lại hệ tuần hoàn và một chức năng phụ là điều hoà thân nhiệt.
Bạn thử nghĩ xem, bằng cách nào mà máu được đưa trở về tim, nhất là khi chúng ta đi hoặc đứng, máu phải được bơm ngược chiều trọng lực qua khoảng cách hơn 1m.
Cơ thể chúng ta có các cơ chế để giải quyết vấn đề này: nhờ lực hút khi áp lực âm của lồng ngực khi hít vào. Máu cũng được đưa về tim nhờ tác dụng của các cơ lòng bàn chân khi chúng ta đi lại gọi là cơ chế bơm đẩy.
Tuy nhiên, cơ chế quan trọng nhất để đảm bảo cho máu về tim là tác dụng bơm của khối cơ bắp chân. Dọc theo tĩnh mạch có các van ở khoảng cách đều nhau, chỉ cho máu chảy theo một hướng đi lên. Do các tĩnh mạch sâu nằm giữa các cơ bắp, nên khi cơ co bóp sẽ tạo một lực ép vào tĩnh mạch và tống máu đi lên. Thí dụ khi nhón gót, bắp chân co lại có tác dụng tống máu đi lên. Khi các khối cơ thư giãn (ngồi nghỉ) tĩnh mạch giãn ra, đường kính lòng tĩnh mạch rộng ra, tạo một áp lực âm hút máu tĩnh mạch xuống phần thấp của chi, nhưng nhờ các van tĩnh mạch nên máu không chảy ngược xuống chân được.
Các gân cơ giữ cho áp lực được tạo ra trong lúc co cơ ép lên tĩnh mạch. Cơ chế cân bằng lực hút này bảo đảm cho máu được vận chuyển về tim đều đặn, hết pha này đến pha khác, giống như con tàu đi qua kênh đào có nhiều cổng. Các van tĩnh mạch hoạt động theo cơ chế này, đặc biệt là các tĩnh mạch xuyên, đã ngăn chặn sự chảy ngược xuống máu, ngay cả khi có áp lực cản trở dòng máu đi lên như khi co cơ bụng, khi ho hoặc khi đi đứng.
Chức năng hệ thứ hai của hệ tĩnh mạch là điều hoà lưu lượng máu. Khoảng 85% lượng máu của cơ thể được chứa ở hệ tĩnh mạch có áp suất thấp, và 60% tổng lượng máu nằm ở các tĩnh mạch nằm ngoài khoang lồng ngực, lượng máu nàu có vai trò dự trữ, sẵn sàng bổ sung vào hệ tuần hoàn khi cơ thể tăng hoạt động thể lực hoặc khi thay đổi tư thế đột ngột.
Nếu hệ thống van tĩnh mạch bị hư, khi vận động, cơ bắp chân co lại tạo một lực ép lên tĩnh mạch, nếu các van tĩnh mạch bị suy yếu, máu có thể chảy theo cả hai hướng, vào vùng các tĩnh mạch đang bị xẹp không hoàn toàn, vì vậy máu tĩnh mạch không được vận chuyển về tim. Tùy theo mức độ hư hại, các tĩnh mạch chi dưới phải chịu áp lực lớn hơn nhiều so với khi hệ thống van tĩnh mạch còn nguyên vẹn, hơn nữa, máu có thể chảy ngược vào các tĩnh mạch xuyên. Nếu áp lực trong hệ tĩnh mạch duy trì ở mức độ cao trong thời gian dài, hệ tĩnh mạch chịu áp lực cao hơn bình thường do máu ứ đọng nhiều hơn, các sợi collagen và sợi cơ trơn của thành tĩnh mạch sẽ bị giãn ra. Sau nhiều tháng, nhiều năm, tĩnh mạch bị phìng to, giãn ngoằn ngoèo, gọi là giãn tĩnh mạch.
Nếu lòng tĩnh mạch bị tắc nghẽn bởi một chướng ngại vậy như huyết khối chẳng hạn thì sự hồi lưu tĩnh mạch bình thường cũng có thể bị gián đoạn, các tĩnh mạch sâu và tĩnh mạch thông nối phía dưới chỗ tắc bị ứ đọng và giãn quá mức. Vị trí tắc nghẽn càng cao thì tình trạng suy tĩnh mạch gây ra càng trầm trọng. Sự tắc nghẽn các tĩnh mạch sâu có thể giảm bớt nhờ máu được dẫn qua các tĩnh mạch khác. Tuy nhiên, nếu chỉ có hệ tĩnh mạch nông được sử dụng để vận chuyển máu thì giãn tĩnh mạch cũng sẽ dần dần xuất hiện.
Nếu giãn tĩnh mạch tự nhiên, không có nguyên nhân, gọi là giãn tĩnh mạch ngyên phát. Nếu giãn tĩnh mạch mắc phải do tác động bên ngoài như đứng lâu, mang thai… thì gọi là giãn tĩnh mạch thứ phát.
Cả hai trường hợp đều dẫn tới suy tĩnh mạch mãn tính, có biểu hiện là phù chân, bệnh da do ứ đọng chất dơ và loét da và bệnh nhân sẽ có cảm giác nặng chân, căng tức chân, sưng phù, đau khi đi và đứng, ngứa da, cảm giác vọp bẻ (chuột rút) bắp chân, chàm và loét chân.








