Tài nguyên nước Việt Nam trong mối liên hệ với các sông quốc tế
Việt Nam có khoảng 2.372 sông với chiều dài từ 10 km trở lên, trong đó có 109 sông chính. Tổng diện tích các lưu vực sông là 1.167.000 km2, phần diện tích trong lãnh thổ Việt Nam là 331.678 km2 (chiếm 38%) và còn lại phần diện tích nằm ngoài lãnh thổ bao gồm 835.422 km2 (chiếm 72%). Tổng lượng nước mặt trên lãnh thổ nước ta khoảng 830 - 840 tỷ m3/ năm. Trong đó, lượng nước nội sinh trên lãnh thổ Việt Nam khoảng 310 - 315 tỷ m3/ năm, nước ngoại sinh từ nước ngoài chảy vào khoảng 520 - 525 tỷ m3/ năm. Tổng lượng nước bình quân đầu người, nếu tính cả lượng nước từ các lãnh thổ nước ngoài chảy vào thì Việt Nam trung bình đạt khoảng 9.480 m3/ người/ năm. Nhưng nếu chỉ tính lượng nước nội sinh trên trong lãnh thổ Việt Nam chỉ đạt 4.400 m3/ người/ năm (mức trung bình của thế giới là 7.400 m3/ người/ năm). Điều đó cho thấy, lượng nước của Việt Nam phụ thuộc vào các sông quốc tế rất nhiều.
Việt Nam nằm trong 2 lưu vực sông lớn, chung với 6 nước trong khu vực. Thứ nhất là lưu vực sông Mê Kông mà phần Việt Nam nằm trong đó là đồng bằng sông Cửu Long, lưu vực sông Mê Kông đi qua 6 nước là Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Thứ hai là lưu vực sông Hồng - Thái Bình bắt nguồn từ Trung Quốc rồi vào Việt Nam. Lãnh thổ Việt Nam nằm ở hạ du các dòng sông Mê Kông và sông Hồng dô vậy cả về lượng và tính chất dòng chảy chúng ta đều chịu ảnh hưởng của phần thượng du các con sông. Theo thống kê, lượng nước sản sinh từ ngoài lãnh thổ chiếm xấp xỉ 2/3 tổng lượng nước có được; trong đó: 95% lượng nước của ĐBSCL là từ Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia. Gần 40% nguồn nước trên sông Hồng - Thái Bình là từ Trung Quốc; khoảng 30% nguồn nước sông Mã; 22% nguồn nước sông Cả từ Lào; 17% nguồn nước sông Đồng Nai từ Campuchia.
Nước ta có 3 lưu vực sông chảy ra nước ngoài là LVS Bằng Giang - Kỳ Cùng (sang Trung Quốc), và LVS Sê San, Srê Pok chảy sang Campuchia. Lượng nước phát sinh từ lưu vực sông Srê Pok và Sê San cung cấp lượng dòng chảy đáng kể cho Campuchia và sang lưu vực sông Mê Kông, và sau đó lại chảy về đồng bằng sông Cửu Long. Gần 75% lượng nước của lưu vực sông Sê San phát sinh từ Việt Nam. Các con số tương tự như vậy, lượng nước từ sông Srê Pok chảy sang Campuchia là 50%.
Như vậy, lượng nước của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào việc khai thác, sử dụng nước của các quốc gia thượng nguồn. Đồng thời, một số nước hạ lưu sông Mê Kông cũng chịu tác động mạnh mẽ của việc sử dụng nước từ sông Sê San, Srê Pok của Việt Nam. Điều đó, cho thấy tầm quan trọng của công tác quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam trong việc hợp tác khai thác tài nguyên nước trên các lưu vực sông Mê Kông và sông Hồng trong việc hợp tác tài nguyên nước.
Đối với các sông quốc tế, vấn đề bảo đảm an ninh nguồn nước thông qua các hiệp định và hợp tác quốc tế là rất quan trọng. Hiện tại, mới chỉ có hiệp định năm 1995 về hợp tác hạ lưu sông Mê Kông được thỏa thuận giữa 4 quốc gia: Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam (Trung Quốc và Myanmar không tham gia). Còn các lưu vực sông khác như sông Mã, Cả, Hồng, Đồng Nai chưa có hợp tác song phương.
Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 của Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2006 cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước. Theo đó, Việt Nam thực hiện đa dạng hóa hình thức hợp tác quốc tế, tăng cường hội nhập khu vực và quốc tế về tài nguyên nước thông qua các chương trình, dự án đa phương và song phương trên tinh thần tôn trọng và thực hiện nghiêm túc các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tham gia. Hiện nay, Việt Nam cũng đang tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế như UNDP, ADB, WB, Danida và các tổ chức chính phủ, phi chính phủ khác nhằm tranh thủ tối đa sự hỗ trợ cho quản lý tổng hợp tài nguyên nước.
Trong thời gian tới, để có thể khai thác tài nguyên nước bền vững, Việt Nam cần chủ động đề xuất việc hợp tác tài nguyên nước trên lưu vực sông Hồng với Trung Quốc và hợp tác khai thác các con sông khác có chung nguồn nước như với Lào, Campuchia. Tiến tới xây dựng các hiệp định, quy chế quản lý, chia sẻ và bảo vệ tài nguyên nước đối với các sông liên quốc gia, đồng thời, cần chú trọng hợp tác trên các lĩnh vực, nâng cao nhận thức cộng đồng về quản lý tổng hợp tài nguyên nước các cấp từ trung ương đến địa phương. Việt Nam cũng cần tham gia tích cực vào các diễn đàn khu vực, thế giới về tài nguyên nước; bao gồm các hoạt động trao đổi thông tin, trao đổi kinh nghiệm, tổ chức hội thảo, hợp tác khác về quản lý tổng hợp tài nguyên nước…








