Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 10/03/2015 18:48 (GMT+7)

Tái cấu trúc hệ thống nghiên cứu

Theo tôi, muốn tái cơ cấu nền KH&CN, trước hết cần tái cơ cấu tư duy của các nhà lãnh đạo – những người có trách nhiệm đưa ra quyết sách. Họ cũng cần có thái độ thực sự trọng thị công tác KH&CN và cá nhân các nhà khoa học, họ cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc rằng, KH&CN thực sự là đòn bẩy và đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế, vì thực tiễn lịch sử phát triển của các quốc gia trong những thập niên qua đều cho thấy một đất nước muốn phát triển phải dựa trên ba trụ cột chính là lực lượng trí thức, lực lượng doanh nhân và các chính sách mang tính khai sáng của nhà nước.

Ở cấp độ cộng đồng làm khoa học, tôi cho rằng, có rất nhiều công việc để làm và phải làm, nếu muốn tái cơ cấu nền KH&CN một cách thực sự. Trước hết, chúng ta cần tính đến việc tổ chức lại/tái cấu trúc mạng lưới hệ thống các đơn vị nghiên cứu (viện nghiên cứu, trường đại học…) nhằm sử dụng hợp lý các nguồn lực trong KH&CN như kinh phí đầu tư, thiết bị, lực lượng nghiên cứu... Việc quy hoạch này còn đem lại kết quả là tránh tái diễn hiện trạng nhập nhằng giữa các viện nghiên cứu cấp quốc gia, cấp tỉnh, ngành hay các viện nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và các hoạt động triển khai kết quả nghiên cứu…

Khi tiến hành quy hoạch hệ thống các đơn vị nghiên cứu, chúng ta cần ưu tiên những viện nghiên cứu trong các trường đại học bởi hoạt động nghiên cứu khoa học trong các viện [trực thuộc các trường đại học] chính là xương sống, là yếu tố đem đến sức sống cho môi trường đại học, nơi khởi nguồn và cung cấp nguồn nhân lực cho nền KH&CN. Và trường đại học có ưu thế hơn hẳn so với nhiều nơi khác khi mang yếu tố liên ngành bên trong lòng nó: mỗi trường đều có từ năm-bảy khoa, thậm chí đến 20 khoa, các đơn vị đào tạo và nghiên cứu về các chuyên ngành hẹp khác nhau. Các viện nghiên cứu trong trường đại học, vì thế, cũng dễ liên kết, hợp tác với nhau hơn, qua đó dễ hình thành các nhóm nghiên cứu liên ngành và nhóm nghiên cứu đa ngành hơn. Hơn nữa, một yếu tố quan trọng khác là mỗi trường đại học đều có nguồn nhân lực vô tận là đội ngũ nghiên cứu sinh mà kết quả nghiên cứu là “sinh mệnh” của họ. Trường đại học nào cũng có trung bình vài ba trăm nghiên cứu sinh, có khi còn nhiều hơn, những người có khả năng tận dụng tối đa thời gian trong ngày cho công tác nghiên cứu; trong khi ở các viện nghiên cứu cấp quốc gia, cấp bộ, ngành, những cán bộ, chuyên viên thường cũng chỉ làm việc theo giờ hành chính ngày tám tiếng, kết quả nghiên cứu không là “sinh mệnh” của cá nhân các cán bộ nghiên cứu này, nên khả năng đưa ra những sản phẩm KH&CN đích thực không cao.

Nếu chúng ta cứ chạy theo đề tài của các chuyên ngành khoa học đơn lẻ, với các sản phẩm đòi hỏi phải ‘ứng dụng’ được ngay theo kiểu ‘mỳ ăn liền’ thì khó mà tạo dựng được các giá trị của một ngành khoa học.

Vì vậy để phát huy những ưu điểm vốn có, cần chú trọng phát triển các viện nghiên cứu trong trường đại học, nhất là trong bối cảnh từ trước đến nay công tác nghiên cứu KH&CN tại môi trường đại học vẫn chưa được coi trọng, chưa được cấp biên chế nghiên cứu, như trường hợp của Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chúng tôi đã đề nghị rất nhiều nhưng chưa được chấp thuận, trong khi một nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu của Học viện là nghiên cứu, và khẩu hiệu “NCKH là sức sống của trường đại học” được dăng đầy ở các khuôn viên đại học. Tôi nghĩ, với trường đại học có viện nghiên cứu thì phải cho phép có tới 40% “biên chế cứng” là nghiên cứu viên, những người chuyên tâm cho công tác nghiên cứu, thì mới có thể tính đến chuyện xây dựng các trường đại học nghiên cứu hay định hướng nghiên cứu như chúng ta mong đợi được.

Sau khi ổn định về mặt tổ chức các viện nghiên cứu, theo tôi việc chúng ta cần làm tiếp theo là cách “ra đầu bài” nghiên cứu, tổ chức hội đồng đánh giá và sử dụng hiệu quả lực lượng nghiên cứu trẻ.

1. Cách ‘ra đầu bài’: Hiện nay, cách chúng ta vẫn thường làm là các đơn vị nghiên cứu gửi yêu cầu tới bộ, ngành để các cơ quan chức năng này tập hợp các đề xuất lại thành các đề tài/dự án, rồi thông báo lại cho các “tác giả” của các đề tài/dự án ấy gửi đề xuất để lựa chọn qua hội đồng hoặc đấu thầu; đây chỉ là một trong nhiều cách làm. Tôi nghĩ, tại sao chúng ta không học tập cách làm của nước ngoài là các cơ quan quản lý kinh phí NCKH/Quỹ KH chủ động kêu gọi nộp đề xuất liên tục ba tháng một lần theo chủ đề về các vấn đề mà thực tiễn sản xuất và đời sống trong nước đang cần các nhà khoa học giải quyết, thay vì kêu gọi các nhà khoa học nộp đề tài bởi đó vốn chỉ là  những thứ mà các nhà khoa học có chứ chưa chắc đã là những thứ xã hội cần.

2. Hội đồng đánh giá: Để thành lập được các hội đồng đánh giá khách quan, chuẩn xác thì người được mời tham gia phải là những nhà khoa học có uy tín, có lòng tự trọng và là những người làm nghiên cứu thực sự, ít nhất trong năm năm gần đây. Hiện nay đang tồn tại một thực tế là nhiều thành viên trong một số hội đồng đánh giá có lý lịch khoa học… “trắng phau”, nếu tra tên họ trên các trang Google Scholar, ResearchGate hay Scopus, những người này có thể “nói” về NCKH rất hay, luôn luôn đúng “nghị quyết” nhưng chưa thực sự NCKH bao giờ!

3. Vấn đề sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ nghiên cứu trẻ, đặc biệt là những tiến sỹ trẻ từ nước ngoài trở về. Trên thực tế, nhiều tiến sỹ được đào tạo ở nước ngoài về Việt Nam là “đứt hẳn” mạch nghiên cứu, bởi không nhận được kinh phí đầu tư cho nghiên cứu. Nguyên nhân là do muốn được giao kinh phí theo các đề tài thì phải đáp ứng được tiêu chí có từ hai đến ba năm kinh nghiệm, trong khi tiến sỹ đó mới “chân ướt chân ráo” trở về, chưa tích lũy được kinh nghiệm nghiên cứu nào. Để tìm lối thoát, vị tiến sỹ trẻ đó phải xoay  theo hướng khác là “bám” lấy một vị tiền bối có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu, dù họ không hơn gì mình về mặt chuyên môn. Vì vậy theo tôi, Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ nghiên cứu sinh trở về Việt Nam để họ có thể tiếp tục hướng nghiên cứu mà họ đang theo đuổi trên chính quê hương mình; và hơn nữa, trở thành dây nối giữa các nhà nghiên cứu, các giáo sư ở các lab quốc tế với các lab trong nước. Đây cũng chính là cách chúng ta có thể “đi tắt đón đầu”, tiếp cận với những công nghệ mới, phát kiến tiên tiến của thế giới. Nếu không làm tốt vấn đề này, các ‘ông Nghè ông Cống’ trẻ dần chìm nghỉm với môi trường nghiên cứu chưa mấy chuyên nghiệp trong nước; vì sau khi về nước từ ba đến năm năm mà không được chủ trì hay tham gia một đề tài/chương trình nghiên cứu nào thì điều đó có nghĩa là kiến thức tích lũy ở nước ngoài sẽ trở về con số 0.

Cuối cùng, tôi nhận thấy rằng, nếu chúng ta cứ chạy theo đề tài của các chuyên ngành khoa học đơn lẻ, với các sản phẩm đòi hỏi phải ‘ứng dụng’ được ngay theo kiểu ‘mỳ ăn liền’ thì khó mà tạo dựng được các giá trị của một ngành khoa học. Lấy mục tiêu ngắn hạn làm thước đo như thế thì nền khoa học của chúng ta vĩnh viễn là nền khoa học ăn đong, không thể xây dựng được tiềm lực khoa học quốc gia mang tính dài hạn. Để đạt được mục đích này, chúng ta cần làm lành mạnh hóa nền khoa học theo các chuẩn mực quốc tế, chuẩn mực của các nước có nền KHCN tiên tiến.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.
Bác Giáp: Sâu nặng những ân tình với VIFOTЕС
Điều mà những người làm khoa học kính phục ở con người Đại tướng Võ Nguyên Giáp là cả khi khỏe mạnh hay đau yếu, ông vẫn hướng tới việc chung, vì sự nghiệp đổi mới, sáng tạo của đất nước. Khi sức khỏe không còn đủ để đến tham dự các lễ trao giải, tôn vinh nhà khoa học, Đại tướng vẫn dõi theo; các thành viên trong Quỹ và Liên hiệp Hội Việt Nam vẫn đến gặp Đại tướng để báo cáo và nghe chỉ đạo.