Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 28/02/2005 21:02 (GMT+7)

Tác động của toàn cầu hoá đối với sự phát triển đội ngũ trí thức và Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam

Toàn cầu hoá hiện nay dựa trên cơ sở và nguồn lực là kinh tế tri thức cho nên những tác động của nó ảnh hưởng trực tiếp nhất đến nguồn lực chủ yếu của phát triển kinh tế - xã hội nước ta: đó là đội ngũ trí thức đang có mặt trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, trước hết là trong các hoạt động lãnh đạo và quản lý.

1. Tác động của toàn cầu hoá đối với trí thức trong lĩnh vực kinh tế

Trong giai đoạn hiện nay, toàn cầu hoá kinh tế là mặt chủ đạo quyết định quy mô và trình độ của toàn cầu hoá trên các lĩnh vực khác. Vì vậy, tác động của toàn cầu hoá kinh tế có bề rộng và chiều sâu cả về kinh tế và chính trị.

a.Trong giai đoạn nước ta lấy phát triển kinh tế làm nhiệm vụ trung tâm thì việc xử lý những tác động của toàn cầu hoá kinh tế có dựa trên những căn cứ khoa học thực tiễn hay không sẽ có quan hệ đến thành bại của quá trình thực hiện các mục tiêu chiến lược trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội.

Vì vậy, thái độ đối với tác động của toàn cầu hoá kinh tế của những trí thức đang hoạt động trong hệ thống lãnh đạo và quản lý kinh tế ở vĩ mô và vi mô có ý nghĩa quan trọng đến toàn cục.

Sự thách thức đối với bộ phận này là ở khả năng vươn tới tầm tư duy khoa học và hệ thống trong lĩnh vực kinh tế - chính trị. Từ đó, mới có năng lực xử lý thông tin làm cơ sở cho mọi hoạt động sáng tạo của mình và của cả hệ thống. Đối với một số người thì còn phải vượt qua ảnh hưởng của chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh nghiệm và thói quen của những công chức hành chính quan liêu hoặc còn vướng trong động cơ mưu cầu danh lợi.

Một vấn đề quan trọng nữa đối với bộ phận trí thức đang hoạt động lãnh đạo, quản lý kinh tế là phải giải quyết những vấn đề thực tiễn trong trạng thái quá độ từ thời đại kinh tế cũ (với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, giai đoạn kinh tế công nghiệp) lên thời đại kinh tế mới (với nền kinh tế tri thức hướng tới một xã hội mới). Khi nhân loại đã đi vào thế kỷ XXI với nền kinh tế tri thức và xu hướng phát triển bền vững thì tầm nhìn của những trí thức đang hoạt động lãnh đạo và quản lý kinh tế phải hướng tới thời đại kinh tế mới khi giải quyết những vấn đề quá độ.

b.Toàn cầu hoá kinh tế dựa trên nền kinh tế tri thức nên sự thay đổi về chất trước hết ở hình thành lực lượng sản xuất mới, trong đó nguồn lực hàng đầu là tri thức chứ không phải là tài nguyên hay vốn tài chính như trước đây. Thắng bại trong cuộc cạnh tranh kinh tế hiện nay, suy cho cùng quyết định bởi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mới. Vì vậy, tác động của toàn cầu hoá đối với bộ phận trí thức trong các doanh nghiệp và các cơ sở kinh tế thể hiện ở:

- Sớm làm cho khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.

- Đổi mới mối quan hệ giữa trí thức với công nhân, liên kết
thành lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội.

- Đề ra nhu cầu nghiên cứu, ứng dụng các vấn đề thực tiễn cho bộ phận trí thức trong các viện nghiên cứu, các trường đại học và cao đẳng.

- Cùng với các cơ sở nghiên cứu và trường học, thực hiện thường xuyên quá trình "xã hội hoá tri thức", làm cho mặt bằng tri thức trong sản xuất và kinh doanh, trong quản lý vi mô và vĩ mô không ngừng được nâng cao.

c.Sự phát triển của toàn cầu hoá kinh tế đã làm cho các dòng vốn đầu tư của thế giới, nhất là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có vai trò rất lớn đối với tăng trưởng kinh tế của đất nước. Hiện nay, khối lượng hàng hoá và dịch vụ do nhiều chi nhánh ở nước ngoài của các công ty xuyên quốc gia bán được lớn hơn nhiều tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới. Như vậy, sản xuất của thế giới dựa nhiều hơn vào sự di chuyển của dòng đầu tư trực tiếp giữa các nước so với buôn bán thế giới.

Tác động của toàn cầu hoá thông qua dòng đầu tư trực tiếp thể hiện ở hai phía: đối với các công ty đầu tư nước ngoài là nhằm thực hiện và củng cố lợi thế cạnh tranh liên quan đến công nghệ tiên tiến. Đối với nước nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài là mong muốn tiếp nhận chuyển giao công nghệ, năng lực quản lý và vốn tài chính nhằm nâng cao sức cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra tiếp nhận đầu tư nước ngoài sẽ thúc đẩy quá trình phân công lại lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế.

Những tác động tích cực của tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ đạt được khi nước ta chuẩn bị được nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu chuyển giao công nghệ, yêu cầu quản lý hiện đại. Vì vậy, đòi hỏi thực hiện đào tạo và nâng cao trình độ cho lực lượng lao động của các dự án đầu tư và cán bộ quản lý. Các công ty xuyên quốc gia có những hoạt động đào tạo nhân lực, được coi là một hình thức chuyển giao công nghệ cho dự án đầu tư. Như vậy, thông qua phát triển hình thức đầu tư trực tiếp, nước ngoài sẽ góp phần thúc đẩy quá trình phát triển đội ngũ lao động tri thức - lực lượng lao động này quyết định trình độ cạnh tranh và sự phồn vinh của đất nước.

d.Hình thành và phát triển một đội ngũ doanh nhân kiểu mới là một đòi hỏi trước những tác động của toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập quốc tế. Ngày nay ai cũng thấy rõ, toàn cầu hoá kinh tế dựa trên động lực và sức mạnh của kinh tế tri thức. Quá trình chuyển biến từ nền công nghiệp lớn lên nền kinh tế tri thức là quá trình kết hợp những thành tựu của hai cuộc cách mạng: cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và cách mạng kinh tế (người ta còn gọi là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba). Hiệu quả vận dụng thành tựu khoa học công nghệ vào lĩnh vực kinh tế phụ thuộc vào hiệu quả của cách mạng kinh tế (đổi mới hình thức tổ chức kinh tế, năng lực quản lý doanh nghiệp và năng lực quản lý nhà nước).

Theo thời gian, kinh tế tri thức càng phát triển thì càng thúc đẩy một đội ngũ doanh nhân kiểu mới ra đời. Họ là những trí thức hoạt động trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Đội ngũ này khác nhiều so với đội ngũ doanh nhân trong nền công nghiệp lớn, giống như lao động trong nền kinh tế tri thức khác với lao động trong nền công nghiệp cơ khí.

Lực lượng chủ yếu để tham gia toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập quốc tế chính là đội ngũ doanh nhân mới, còn các cơ quan nhà nước (như ngoại giao, thương mại,...) là tạo điều kiện, mở đường cho họ hoạt động có hiệu quả.

2. Tác động của toàn cầu hoá đối với trí thức trong lĩnh vực văn hoá, xã hội, giáo dục

Do toàn cầu hoá dựa trên động lực và sức mạnh của kinh tế tri thức nên tác động của nó đối với những trí thức đang hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục ngày càng tăng, ngày càng có tính chất trực tiếp. Điều này bắt nguồn từ đặc điểm của lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế tri thức đòi hỏi một mặt, tri thức không ngừng được xã hội hoá, mặt khác, xã hội không ngừng được tri thức hoá. Chính vì vậy, mối quan hệ tương tác giữa kinh tế tri thức với văn hoá, xã hội, giáo dục ngày càng gắn bó. Mối quan hệ đó thúc đẩy thông qua tác động của toàn cầu hoá.

Tác động của toàn cầu hoá đối với những trí thức hoạt động trong lĩnh vực văn hoá, xã hội, giáo dục đã đặt ra những vấn đề sau đây đòi hỏi nhận thức đúng:

a.Mối quan hệ giữa văn hoá phương Đông với văn hoá phương Tây. Đây là vấn đề đang tranh luận ở nhiều nước với các quan điểm khác nhau.

b.Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong xã hội "hậu công nghiệp" khác trong xã hội công nghiệp. Sự khác nhau tập trung ở hai vấn đề: con người trong mối quan hệ với xã hội và với tự nhiên; con người phát triển toàn diện khác với con người chủ nghĩa cá nhân.

c.Đối với những vấn đề về lực lượng sản xuất mới, nền văn hoá mới, con người mới nói trên thì người ta mong đợi nhiều sự phát triển nền giáo dục mới. Chính vì vậy mà toàn cầu hoá đang gây ra sức ép mạnh mẽ đối với những trí thức hoạt động giáo dục, đang tham gia quá trình cải cách giáo dục.

d.Trong quá trình phát triển kinh tế tri thức và toàn cầu hoá còn đưa đến những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu xã hội dân cư. Trong giai đoạn quá độ hiện nay, cơ cấu xã hội - giai cấp trong xã hội công nghiệp vẫn còn và đang biến đổi, nhưng một xã hội mới đang dần hình thành do sự phát triển phân công lao động mới trong nền kinh tế tri thức và toàn cầu hoá kinh tế. Những nét mới thấy được của cơ cấu xã hội đang hình thành là:

- Giai cấp công nhân đang phát triển ở trình độ mới hình thành những người lao động tri thức, có vai trò ngày càng tăng trong lao động sáng tạo và quản lý.

- Lần đầu tiên trong lịch sử, khoảng cách giữa lao động chân tay với lao động trí óc (do lịch sử sinh ra từ phân công lao động cũ) đang được thu hẹp và mờ dần. Người công nhân mới cùng với các chuyên gia đang kết hợp thành lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội mới.

- Sự phân công lao động mới trong nền kinh tế tri thức được thúc đẩy bởi toàn cầu hoá đã đưa đến hình thành tầng lớp trung lưu (hay tầng lớp hữu sản, không phải là vô sản cũng không phải là tư sản). ở các nước đang phát triển kinh tế thị trường trong thời đại hiện nay đều hình thành tầng lớp trung lưu. ở Trung Quốc đã có hơn 15% dân số thuộc tầng lớp này. Xu hướng "dân giàu, nước mạnh" sẽ thể hiện ở một trong những tiêu chí là sự ra đời và phát triển tầng lớp trung lưu như là con đẻ của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong giai đoạn kinh tế tri thức và toàn cầu hoá. Những công nhân, nông dân trí thức sẽ trở thành một bộ phận ngày càng lớn của tầng lớp trung lưu. Đó là sự giải phóng lần thứ hai khi công nông vượt ra khỏi tình trạng vô sản chuyển thành những người hữu sản văn minh.

3. Tác động của toàn cầu hoá với mối quan hệ giữa chính trị - xã hội và khoa học công nghệ

Khoa học là lĩnh vực hoạt động sáng tạo nhằm tìm tòi những quy luật, xu hướng phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy vì sự phát triển của xã hội loài người. Sự phân biệt giữa văn minh với dã man, tự do với tất yếu đều gắn liền với trình độ phát triển khoa học. Tuy vậy, từ xưa đến nay, sự thực hiện chức năng khoa học đều gắn liền với môi trường chính trị - xã hội lại do những điều kiện lịch sử quy định, không thể từ mong muốn chủ quan.

a.Trong thời đại chủ nghĩa tư bản, khoa học công nghệ đã phát triển chưa từng có, là nhân tố chủ yếu tạo ra sự giàu có của chủ nghĩa tư bản. Nhưng môi trường chính trị - xã hội của chủ nghĩa tư bản đã làm cho tiến bộ khoa học công nghệ mang tính chất hai mặt. Theo quan điểm của trường phái Phranphuốc thì "Tiến bộ khoa học kỹ thuật = Tăng trưởng của cải xã hội = Phát triển nô dịch". Tiến bộ khoa học kỹ thuật do con người tạo ra nhưng trở thành lực lượng khống chế, thậm chí nô dịch con người. Trong các chế độ bá quyền hay độc tài thì khoa học kỹ thuật bị tha hoá thành công cụ thống trị chính trị.

Sự ra đời kinh tế tri thức và phát triển toàn cầu hoá, một mặt đã mở rộng cả mặt tích cực và tiêu cực của tiến bộ khoa học kỹ thuật ra toàn cầu, mặt khác đã có nhiều nhà khoa học và dân chúng lên tiếng phê phán và đòi hỏi "nhân đạo hoá và nhân văn hoá khoa học" theo các phương hướng:

- Loại trừ khả năng lạm dụng những thành tựu khoa học.

- Khai thác sử dụng giới tự nhiên một cách cân bằng.

- Khắc phục tính phiến diện và tuyệt đối hoá việc nhận thức bằng phương pháp thực nghiệm duy lý.

- Bảo đảm những điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghề nghiệp cần thiết cho cán bộ khoa học, giúp bản thân nhà khoa học phát triển toàn diện và hài hoà nhằm phát huy cao độ tiềm năng sáng tạo của mỗi người.

- Nhà nước bảo đảm cho khoa học có một vị thế tương đối và sự ủng hộ về mặt đạo đức của xã hội.

Như vậy, vai trò của đội ngũ khoa học công nghệ phát huy như thế nào đều gắn liền với môi trường chính trị - xã hội. Ngoài ra từ cuối thế kỷ XX trở đi, xu hướng phát triển hài hoà giữa khoa học tự nhiên với khoa học xã hội trong nền khoa học hiện đại, trong đội ngũ và trong mỗi nhà khoa học đang mở ra triển vọng to lớn và tính khả thi về thực hiện quá trình nhân đạo hoá khoa học. Tính chất tiên tiến của một nền khoa học quốc gia còn được đánh giá từ tiêu chí nhân đạo hoá khoa học.

b.Do môi trường chính trị - kinh tế khác nhau, nên hiện nay vấn đề lưu động chất xám ngày càng tăng cùng với phát triển toàn cầu hoá. Trong đó có vấn đề "chảy máu chất xám" của nhiều quốc gia

... Tình trạng mất đi những người được đào tạo chuyên môn ở trong và ngoài nước được người ta coi là "sự tàn phá đặc biệt" đối với quốc gia ở thời kỳ phát triển trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế gay gắt. Gần đây, tình trạng những người có chuyên môn tuy không ra đi, nhưng không được sử dụng đúng hoặc phải chuyển nghề để kiếm sống cũng được người ta coi là một "sự tàn phá bên trong".

Hiện nay, xu hướng phát triển bền vững đang ngày càng có tác động tích cực đến việc cải thiện môi trường chính trị - xã hội cho phù hợp với nhu cầu nhân đạo hoá và nhân văn hoá khoa học.

4. Tác động của toàn cầu hoá đối với sự phát triển của các Hội khoa học kỹ thuật nước ta

Các Hội khoa học kỹ thuật nước ta và Liên hiệp hội được xác định là một lực lượng nòng cốt trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vai trò và nhiệm vụ ấy càng nặng nề trước những tác động của sự phát triển kinh tế tri thức và toàn cầu hoá. Có thể nói, tác động toàn cầu hoá đối với sự phát triển của đội ngũ trí thức cũng là tác động đối với các tổ chức của họ.

Phương hướng phát triển cùng với phương thức và phương pháp hoạt động của các tổ chức này có hiệu quả tốt hay không tuỳ thuộc rất nhiều vào thái độ xử lý của những người điều hành các Hội trước thực tiễn biến đổi nhanh của đất nước và tác động của toàn cầu hoá.

Tác động của toàn cầu hoá đặt ra những vấn đề gì cho các Hội và Liên hiệp hội?

a.Trước hết đòi hỏi có tầm nhìn sáng tỏ những xu hướng của thời đại, của khoa học công nghệ, góp phần nâng cao nhận thức của các thành viên trong hoạt động thực tiễn.

b.Đổi mới phương thức hoạt động, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả phát triển tri thức và phương pháp làm thước đo, làm cho một tổ chức khoa học khác với một tổ chức hành chính.

c.Do kinh tế tri thức và toàn cầu hoá phát triển nhanh, nên cần coi trọng công tác thông tin, nâng cao năng lực xử lý thông tin, tránh tình trạng "no thông tin, đói nhận thức", nhằm nâng cao trình độ các thành viên.

d.Sớm tìm tòi những hình thức liên kết phối hợp với công nhân trong công nghiệp và xây dựng, với nông dân trong các lĩnh vực nông nghiệp theo hướng hình thành lực lượng sản xuất mới.

đ.Tổ chức khoa học theo phương pháp hệ thống, trong đó phát huy đầy đủ vai trò cá nhân nhà khoa học và vai trò tập thể khoa học. Xử lý tốt mối quan hệ cá nhân và tập thể. ở đây, "trái ngược không phải mâu thuẫn, mà chúng bổ sung cho nhau". Trước thực tiễn biến đổi nhanh, bổ sung và hoàn thiện cho nhau trở thành một nhu cầu phát triển tri thức và các tổ chức khoa học.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.
Bác Giáp: Sâu nặng những ân tình với VIFOTЕС
Điều mà những người làm khoa học kính phục ở con người Đại tướng Võ Nguyên Giáp là cả khi khỏe mạnh hay đau yếu, ông vẫn hướng tới việc chung, vì sự nghiệp đổi mới, sáng tạo của đất nước. Khi sức khỏe không còn đủ để đến tham dự các lễ trao giải, tôn vinh nhà khoa học, Đại tướng vẫn dõi theo; các thành viên trong Quỹ và Liên hiệp Hội Việt Nam vẫn đến gặp Đại tướng để báo cáo và nghe chỉ đạo.
Phụ nữ VUSTA: Tự tin tỏa sáng và làm chủ hạnh phúc
Sáng ngày 20/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức đã tổ chức Chương trình chúc mừng Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10. Sự kiện là dịp tôn vinh nét đẹp của đội ngũ nữ cán bộ, người lao động VUSTA, đồng thời lan tỏa những thông điệp truyền cảm hứng về hành trình tự tin, hạnh phúc của phụ nữ.