Suy nghĩ về triển khai thực hiện chiến lược Biển Việt Nam
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện khung luật pháp và chính sách về biển, củng cố quản lý nhà nước đủ mạnh để phát triển kinh tế biển và hải đảo
Hoàn chỉnh hệ thống luật, các văn bản dưới luật về chủ quyền biển, đảo đã được pháp luật quốc tế thừa nhận. Trước hết, việc ban hành các luật cần phải tuân theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, tích cực triển khai xây dựng luật về các vùng biển Việt Nam theo chương trình xây dựng pháp luật đã được Quốc hội khóa X, XI thông qua, làm chỗ dựa để cụ thể hóa các chính sách vĩ mô và chính sách khuyến khích phát triển các ngành kinh tế biển theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN.
Xây dựng các chính sách nhằm huy động mọi nguồn lực, kể cả nội lực và ngoại lực để phát triển nhanh, hiện đại hóa một số ngành kinh tế quan trọng như dầu khí, thủy sản, du lịch đóng tàu, vận tải biển… Đây là những ngành có nhiều tiềm năng nhưng từ trước đến nay mới đầu tư khai thác tùy theo khả năng nên chưa đồng bộ và hiệu quả thấp. Sắp tới cần khai thác tối đa lợi thế và tiềm năng cho phép ở từng vùng, từng ngành nghề và các thành phần kinh tế, nhằm tạo ra giá trị xuất khẩu lớn, tích lũy cao và ổn định cho nền kinh tế, nhằm tạo ra giá trị xuất khẩu lớn, tích lũy cao và ổn định cho nền kinh tế quốc dân và tạo thêm nhiều công ăn việc làm đáp ứng cho lao động, dân cư có chiều hướng ngày càng gia tăng.
Để khai thác hiệu quả tiềm năng biển, đảm bảo chủ quyền và lợi ích quốc gia cần hình thành những phương thức tổ chức, chính sách và cơ chế thích hợp trên các vùng. Đối với vùng biển thuộc chủ quyền cần có chính sách ưu tiên riêng đặc thù nhằm khai thác hợp lý tiềm năng của biển và hải đảo. Đối với vùng biển đặc quyền kinh tế và thêm lục địa, nếu không đủ sức khai thác thì đẩy mạnh liên doanh với nước ngoài trên cơ sở chọn đối tác mạnh, có công nghệ tiên tiến như khai thác thủy sản, thăm dò, khai thác dầu khí, khoáng sản dưới đáy biển… Đối với vùng biển chồng lấn: mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế để khai thác chung như thủy sản, dầu khí.
Bổ sung và xây dựng mới các chínhh sách nhằm tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng vùng biển, hải đảo, nhất là các lĩnh vực: Giao thông đường bộ, bến cảng, sân bay, cấp điện, cấp nước sinh hoạt, bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin (xây dựng mới các chính sách phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông biển, thông tin liên lạc biển hiện đại) đảm bảo cho sự phát triển kinh tế biển ngang tầm khu vực và quốc tế. Có chính sách xây dựng phương tiện nối đất liền với đảo tạo đà cho sự phát triển nhanh sau năm 2010. Xây dựng các khu công nghiệp - đô thị mới, khu du lịch và tuyến du lịch biển được kết nối với nhau, hỗ trợ nhau phát triển.
Bổ sung cụ thể hóa các chính sách hiện hành và xây dựng mới các chính sách đặc thù nhằm xây dựng nông thôn ven biển và hải đảo trên 3 mặt: dân trí, dân sinh, dân chủ. Đặc biệt là chính sách đưa dân ra đảo vừa làm nhiệm vụ phát triển kinh tế biển, đảo, vừa phối hợp và đảm bảo làm hậu cần vững chắc cho các lực lượng vũ trang bảo vệ, kiểm soát trên biển. Việc lựa chọn di dân ra các đảo cần chú ý đến các tối tượng thanh niên có kiến thức về biển, biết làm giàu cho bản thân và xã hội. Trong đó, cần chính sách đầu tư thích đáng để thực hiện nhanh chóng chương trình xây dựng các tuyến đảo như Phú Quốc, Phú Quý, Lý Sơn, Cát Bà, Cái Chiên, Vĩnh Thực, Vân Đồn, Cô Tô, Bạch Long Vĩ, Hòn Mê, Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, Cù Lao Xanh, Côn Đảo, Kiên Hải, Hòn Muối, Nam Du, Thổ Chu… kết hợp chương trình xây dựng đảo là tiền tiêu, là hậu cần vững chắc về an ninh quốc phòng.
Tiếp tục cụ thể hóa các chính sách của Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 3, lần thứ 5 (khóa IX) về cải cách và phát triển các thành phần kinh tế (doanh nghiệp nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, cá thể, tiểu chủ và kinh tế hộ gia đình) trong phát triển các ngành kinh tế ven biển và hải đảo, nhất là các ngành công nghiệp nông thôn ven biển và đảo (công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản, công nghiệp dịch vụ).
Cụ thể hóa các chính sách thực thi có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 (khóa X) về “Chiến lược biển Việt Nam đến 2020”. Có cơ chế, chính sách để phát huy tiềm lực khoa học nghiên cứu biển một cách toàn diện. Khoa học công nghệ cần đi trước một bước, làm cơ sở cho thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế biển theo hướng hội nhập, vừa cho trước mắt và cho lâu dài.
Thực hiện các chính sách nhằm tăng cường tiềm lực sức mạnh tổng hợp của đất nước về biển. Huy động và kết hợp bố trí hợp lý lực lượng vũ trang làm kinh tế dịch vụ biển, làm chỗ dựa cho các thành phần kinh tế khác hoạt động trên biển với cơ chế quản lý riêng. Có chính sách khuyến khích và tạo lập thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, đảm bảo các hoạt động dân sự trên toàn vùng biển được thường xuyên, nhất là đánh bắt hải sản, quản lý biển (có các lực lượng như cảnh sát biển, hải quân, biên phòng, an ninh và cảnh sát nhân dân, hải quan, chống buôn lậu, kiểm ngư…).
Từ các định hướng trên, các ngành, lĩnh vực về biển đưa ra phương hướng nhiệm vụ xây dựng cơ chế chính sách nhằm phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế biển (chủ yếu) cho thời gian tới.
Từ thực tiễn bất cập của hệ thống thể chế và quản lý nhà nước về biển vừa qua Chính phủ đã cho ra đời Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường. Quyết định số 116/TTg ngày 27 - 8 - 2008 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định chức năng, nhiệm vụ cơ cấu tổ chức của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam. Từ nay, nước ta đã có cơ quan quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo.
Trong thời gian tới cần kiện toàn cơ chế và tăng cường đầu tư để cơ quan quản lý có đủ năng lực quản lý tổng hợp về biển và hải đảo theo phương châm quản lý toàn diện sự nghiệp phát triển kinh tế biển hải đảo và vùng ven biển của đất nước.
Xây dựng chương trình hành động liên ngành phối hợp thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến 2020, trong đó có những chương trình tập trung phát triển các ngành ưu tiên như cảng và kinh tế hàng hải, khai thác và chế biến dầu khí, hải sản, du lịch và kinh tế hải đảo, xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển. Chương trình sẽ nêu ra những công việc cần làm trong mỗi giai đoạn phát triển, đồng thời chỉ rõ việc phân công, phân cấp. Để thực hiện chương trình trên phải có sự kết hợp quản lý chặt chẽ của các Bộ, ngành và các địa phương có biển.
Để có bước phát triển mới về kinh tế biển, vùng ven biển và hải đảo tăng cường quản lý nhà nước về biển, phát triển khoa học công nghệ biển và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế biển và hải đảo có ý nghĩa đột phá.
Triển khai công tác quy hoạch phát triển kinh tế các vùng biển và hải đảo
Sau khi chương trình hành động về Chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo được Chính phủ phê duyệt, cần triển khai ngay công tác quy hoạch các vùng ven biển, trước mắt là hoàn thiện quy hoạch phát triển vùng vịnh Bắc bộ và triển khai quy hoạch phát triển vùng biển miền Trung và vùng vịnh Thái Lan. Tiến hành quy hoạch ngay các trung tâm phát triển ra biển và các khu vực lãnh thổ biển, đảo có khả năng đột phá như Vân Đồn, Văn Phong, Côn Đảo, Phú Quốc, Phú Quý. Tiến hành công tác quy hoạch những ngành, lĩnh vực đã có. Công tác quy hoạch phải tiến hành trên cơ sở đổi mới tư duy của kinh tế thị trường, có tầm nhìn dài hạn, hiện đại theo những tiêu chuẩn phù hợp với quốc tế và khu vực.
Theo tính toán, với mức GDP của kinh tế biển và vùng ven biển chiếm khoảng 35% GDP của cả nước vào năm 2020, tổng lượng vốn đầu tư cần thiết cho kinh tế biển và vùng ven biển trong giai đoạn 2006 - 2020 tối thiểu phải đạt khoảng 555 - 588 nghìn tỷ đồng, tương đương với khoảng 30% trong tổng số vốn đầu tư của cả nước (Tổng số vốn đầu tư của cả nước theo dự báo trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006 - 2010 là 1.850 - 1.960 nghìn tỷ đồng, theo giá năm 2005). Tổng số vốn đầu tư dự kiến của thời kỳ 10 năm (2011 - 2020) sẽ khoảng gấp 2,3 - 2,6 lần số vốn đầu tư của giai đoạn 5 năm (2006 - 2010).
Do vậy, phải xây dựng hệ thống chính sách khuyến khích mạnh mẽ các nguồn vốn đầu tư (cả trong và ngoài nước) dưới hình thức để phát triển kinh tế biển và hải đảo, trong đó đặc biệt chú trọng trong các lĩnh vực xây dựng các khu đô thị mới, khu công nghiệp, khu chế xuất, kết cấu hạ tầng; các ngành kinh tế biển thu hút nhiều lao động; và các lĩnh vực kinh tế biển công nghiệp hiện đại, có giá trị tăng cao; đảm bảo an toàn và an ninh cho các hoạt động kinh tế biển. Nhà nước có trách nhiệm đầu tư vào các lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng phát triển kinh tế biển và hải đảo. Đối với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế cùng tham gia phát triển.
Phát triển nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế biển
Căn cứ quy hoạch từng ngành, lĩnh vực thuộc kinh tế biển và vùng ven biển, phát triển tổng hợp nguồn nhân lực biển bao gồm cán bộ nghiên cứu khoa học, công nghệ biển, các chuyên gia và đội ngũ lao động được đào tạo chuyên sâu về các nghề như: vận tải biển, đóng tàu biển, đánh bắt hải sản, du lịch biển, khai thác khoáng sản biển, bảo vệ môi trường biển - hải đảo. Xây dựng cơ chế chính sách về đào tạo nhân lực và kế hoạch phát triển nguồn nhân lực thuộc các thành phần kinh tế. Trước mắt, nhanh chóng tiến hành đào tạo và hợp tác quốc tế cho các vùng kinh tế trọng điểm về kinh tế biển và hải đảo. Tập trung xây dựng nhanh một số cơ sở đào tạo ngành, nghề về biển hiện đại tại Hải Phòng, Đà Nẵng, Tp Hồ Chí Minh. Xây dựng cơ chế chính sách đào tạo nguồn nhân lực gắn với cơ chế cử tuyển để khuyến khích cán bộ có chuyên môn sâu về biển ra công tác tại đảo và vùng ven biển.
Tăng cường hợp tác quốc tế biển
Mở rộng hợp tác quốc tế và tăng cường công tác ngoại giao để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển và hải đảo trên các lĩnh vực: đầu tư phát triển, khai thác tài nguyên biển, đào tạo nguồn nhân lực, chia sẻ kinh nghiệm và thông tin, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phòng chống cứu hộ cứu nạn, cảnh báo thiên tai… Đặc biệt chú ý tăng cường hợp tác với các nước lân cận biển Đông và những nước có tiềm lực kinh tế khoa học công nghệ về biển mạnh. Trên cơ sở hợp tác phát triển mà giải quyết tốt vấn đề an ninh và tranh chấp còn tồn tại.
-








