Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 13/10/2010 21:42 (GMT+7)

Sự phát triển của các trường phổ thông ngoài công lập cần có sự định hướng của Nhà nước

Khi ngân sách nhà nước không thể bao cấp nổi gánh nặng giáo dục của toàn xã hội thì các hoạt động ngày càng khó khăn. Các ngành giáo dục, y tế, văn hóa đã bộc lộ ngay những khó khăn trong hoạt động: Trường lớp xuống cấp không tu sửa kịp, cuộc sống khó khăn khiến một bộ phận giáo viên đã bỏ việc, bỏ nghề, học sinh bỏ học, nghỉ học để phụ gia đình làm kinh tế v.v…

Đại hội VI của Đảng đã mở ra một kỷ nguyên mới cho tiến trình xây dựng đất nước. Kinh tế thị trường được thừa nhận, nhà nước thu hẹp và hạn chế phạm vi bao cấp đối với các hoạt động xã hội, trong đó có giáo dục và y tế, xã hội hóa đầu tư để huy động các thành phần xã hội tham gia vào công cuộc kiến thiết đất nước.

Giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu, là động lực của phát triển quốc gia. Giáo dục không còn là nhiệm vụ riêng của nhà nước (ngành Giáo dục) mà là nhiệm vụ chung của toàn xã hội, xã hội hóa giáo dục trở thành tiền đề cho sự nghiệp đổi mới giáo dục nước nhà. Trước tình hình khó khăn của ngành giáo dục, tháng 12 năm 1988, Quốc hội đã cho phép nhà trường thu một phần học phí.

Ở thành phố Hồ Chí Minh, với truyền thống năng động và sáng tạo, đã hình thành một số lớp học hệ B (bán công) trong trường công lập. Tuy nhiên, tiến trình đổi mới giáo dục không đơn thuần là những giải pháp tình thế mà là cả một sự chuyển đổi về hoạt động giáo dục, đặc biệt là đòi hỏi sự đổi mới tư duy của những cơ quan quản lý giáo dục nước nhà, trong xu thế hội nhập toàn cầu. Nghị quyết Trung ương 4 Khóa VII chỉ rõ: "huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của nhà nước". Tiếp đến, Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII khẳng định: "...tiếp tục đa dạng hóa các hình thức giáo dục và các loại hình trường lớp phù hợp với đòi hỏi của tình hình mới, với nhu cầu của tuổi trẻ và toàn xã hội". Từ đó, các trường ngoài công lập (tên gọi chung cho trường dân lập, tư thục) đã xuất hiện và ngày càng phát triển.

Đến năm học 2006, cả nước có 6.049 cơ sở mầm non ngoài công lập (chiếm 52,2%), 90 trường tiểu học (chiếm 0,61%), 49 trường trung học cơ sở (chiếm 0,47%), trung học phổ thông có 617 trường (chiếm 26,2%), trung cấp chuyên nghiệp có 64 trường (chiếm 23,8%), cao đẳng đại học có 47 trường (chiếm 12,87%), ngoài ra còn một số trường có yếu tố nước ngoài. Hệ thống trường ngoài công lập đã đóng góp nhất định vào việc chia sẻ trách nhiệm trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo của nước nhà.

Sự phát triển của hệ thống giáo dục ngoài công lập là yêu cầu tất yếu của xã hội, một mình nhà nước không thể đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng đa dạng của người dân, nhất là trong thời đại hội nhập toàn cầu, học tập suốt đời là yêu cầu của hội nhập quốc tế.

Sự phát triển của hệ thống giáo dục ngoài công lập ngày càng khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng ta về xã hội hóa giáo dục đã được sự đồng tình cao của nhân dân và các tổ chức xã hội trong và ngoài nước. Tuy nhiên, hệ thống các trường ngoài công lập cần được nhà nước định hướng phát triển để đóng góp nhiều hơn nữa cho công cuộc đổi mới giáo dục nước nhà.

Hệ thống giáo dục ngoài công lập ngày càng mở rộng cả về quy mô lẫn hình thức đào tạo. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ góp ý về cấp phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh.

Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 62 trường phổ thông ngoài công lập (có những trường có từ hai đến bốn cơ sở như trường Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Khuyến, Phạm Ngũ Lão, Trí Đức... trong đó có 11 trường có yếu tố nước ngoài đầu tư và quản lý rải đều các quận huyện trong thành phố:

Quận 1 có 3 trường trong đó có 1 trường có yếu tố nước ngoài với 3 cơ sở. Quận 2 có 5 trường đều có yếu tố nước ngoài. Quận 3 có 5 trường. Quận 4 chưa có. Quận 5 có 3 trường (trường PTTH An Đông có 3 cơ sở). Quận 6 có 2 trường. Quận 7 có 4 trường đều có yếu tố nước ngoài. Quận 8 có 1 trường. Quận 9 có 1 trường. Quận 10 có 5 trường. Quận 11 có 4 trường (trường APU). Quận 12 có 1 trường. Quận Tân Bình có 14 trường (trong đó trường Nguyễn Khuyến và Quốc tế có 2 cơ sở trong quận). Quận Tân Phú có 7 trường (trường Trí Đức có 2 cơ sở cùng quận). Quận Gò Vấp có 3 trường (trường Phan Huy ích có 2 cơ sở cùng quận). Quận Bình Tân có 2 trường. Quận Thủ Đức có 2 trường. Quận Bình Thạnh 7 trường. Quận Phú Nhuận có 4 trường. Quận Tân Bình, Tân Phú, có số lượng trường ngoài công lập nhiều nhất, điều này cũng dễ lý giải vì quận Tân Bình cũ có lượng di dân nhập cư cao nhất dẫn đến quá trình đô thị hóa phát triển nhanh. Quận Tân Bình (1997, khi chưa tách quận) có số lượng học sinh đông nhất thành phố, chiếm 1/10 tổng số học sinh từ mầm non đến PTTH toàn thành phố.

Thành phố Hồ Chí Minh được xem là trung tâm kinh tế của cả nước, do đó, lực lượng di dân đến thành phố ngày càng nhiều, ngành Giáo dục - Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh phải đáp ứng nhu cầu học tập không những cho người dân thành phố mà còn cho số di dân đến thành phố, chiếm 9,84% trên tổng số dân thành phố. Do đó, dù ngân sách thành phố chi cho ngạch giáo dục khá lớn (20 đến 22% tổng ngân sách thành phố), riêng năm Giáo dục 1999, thành phố đã bố trí đến 25% vốn đầu tư từ ngân sách thành phố cho việc xây dựng và sửa chữa hệ thống trường phổ thông công lập ở thành phố nhưng áp lực về cơ sở trường lớp vẫn không giảm.

Hệ thống trường phổ thông ngoài công lập thực sự đã chia sẻ số lượng học sinh quá tải của thành phố. Ngoài ra với hệ thống bán trú và nội trú còn đáp ứng được nhu cầu của một bộ phận phụ huynh không có điều kiện đưa đón, chăm sóc con, đáp ứng nhu cầu học tập cho học sinh ở các địa phương khác (30% trên tổng số học sinh ngoài công lập), giải quyết cho một bộ phận giáo viên công lập có điều kiện dạy thêm tăng thu nhập, giải quyết được một số lao động...

Theo mục tiêu chung của ngành Giáo dục - Đào tạo thì đến năm 2010, tỷ lệ học sinh ngoài công lập như sau: mẫu giáo 70%; THPT 40%; THCN 30%; CĐ - ĐH 40%. Do đó, hệ thống trường ngoài công lập sẽ tiếp tục phát triển về quy mô để đáp ứng yêu cầu học của nhân dân.

Trong thời gian qua, sự phát triển về số lượng của các trường ngoài công lập đã xuất hiện những mặt hạn chế mà nếu nhà nước không có chính sách quản lý vĩ mô thì sẽ dẫn đến những bất cập sau này.

Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến các mặt hạn chế về trường lớp và môi trường nội trú mà cơ quan chức năng cần có sự điều chỉnh sớm để giúp cho hệ ngoài công lập phát triển tốt hơn, để xã hội thực sự có những ngôi trường xanh, sạch và thân thiện.

Điều kiện cơ sở trường lớp của các trường phổ thông ngoài công lập

Môi trường giáo dục phổ thông khác xa với các trung tâm luyện thi hay trường dạy ngoại ngữ vốn là nơi học sinh đến để bổ sung kiến thức. Trường phổ thông được xem là gia đình thứ hai của học sinh (thời gian gắn bó), nơi học sinh không những được truyền thụ về kiến thức, mà còn là nơi hình thành nhân cách cho học sinh khi vào tuổi thành niên. Điều kiện cơ sở vật chất (không gian, phòng học và các trang thiết bị cho công tác giảng dạy, học tập) có ảnh hưởng không nhỏ đến cả quá trình đào tạo. Nói đến môi trường giáo dục là nghĩ ngay đến ngôi trường với sân trường, các băng đá dưới những tán cây phượng, cây điệp,... nơi học sinh thường gắn bó bên nhau trong học tập lẫn vui chơi trong một thời gian (ít nhất cũng vài năm học), và chính từ những mái trường phổ thông đã góp phần tạo nhân cách cho học sinh sau này...

Trên địa bàn thành phố Hố Chí Minh, ở khu vực nội thành, quỹ đất ngày càng hiếm, nếu đầu tư xây dựng một ngôi trường đúng chuẩn đòi hỏi kinh phí lớn. Do đó, hầu hết các trường ngoài công lập là các mặt bằng thuê (kho, xưởng sản xuất, đất trống, nhà phố liên kết..) rồi cải tạo lại làm trường học. Lúc đầu, với quy mô diện tích nhỏ, quá trình hoạt động nếu phát triển lại tiếp tục xây dựng một cách chắp vá không quy hoạch (nếu còn diện tích trống), hay phải thuê mướn mặt bằng mới để mở rộng quy mô, và quy trình cứ thế phát triển, sân trường là nhu cầu trở nên xa xỉ (ngay cả chỗ giữ xe cho học sinh cũng khó khăn); khu nội trú là những dãy giường 2 - 3 tầng được kê san sát nhau để tận dụng diện tích; nhà ăn thường ít được đầu tư mà là tận dụng khoảng diện tích trống còn lại để bày các bàn ăn cho học sinh ăn cơm (có trường tận dụng cả hành lang lối đi để bày bàn ăn). Trong công trình nghiên cứu về xu hướng phát triển của hệ thống giáo dục phổ thông ngoài công lập qua thực tế ở 18 trường thì tỷ lệ các trường có diện tích bình quân dưới 3m 2/ HS chiếm 12/18 trường (tỷ lệ 2/3).

Hệ thống trường công lập do điều kiện khách quan nên đa số các trường cũng chưa đáp ứng được tiêu chuẩn xây dựng đối với trường học, trên địa bàn thành phố, diện tích đất sử dụng cho giáo dục phổ thông chỉ có 337,55 ha, đạt bình quân 3,5m 2/ học sinh, trong đó, đất dành cho sân chơi chiếm khoảng 63,15 % nhưng đa số các trường vẫn cố gắng duy trì được sân chơi, cảnh quan sư phạm. Năm 1999, được UBND thành phố chọn là Năm Giáo dục của thành phố và kêu gọi thực hiện phương châm "Thầy ra thầy, trò ra trò, trường ra trường". Ngân sách thành phố đã đầu tư đến 25% vốn xây dựng cơ bản của thành phố để xây mới và sửa chữa trường học. Trong khi đó, với sự phát triển về số lượng của các trường phổ thông ngoài công lập mà đa số với quy mô khoảng 10 đến 15 lớp ở mỗi trường hay mỗi cơ sở của một trường như hiện nay thì khó lòng có những "trường ra trường". Theo khảo sát của Bộ Xây dựng thì các trường phổ thông ngoài công lập chỉ đạt diện tích 1 đến 3m 2/ học sinh (bằng 30 đến 40% tiêu chuẩn)... Với diện tích mặt bằng hạn chế thì hệ thống trường ngoài công lập khó hội đủ các tiêu chuẩn về cơ sở phòng chức năng (phòng Lab, phòng vi tính, phòng sinh hoạt văn nghệ, hội trường, phòng y tế, sân tập thể đục - thể thao...), nếu có cũng chưa đạt yêu cầu sử dụng; không gian trường thiếu khang trang, xanh, sạch... thì khó có được trường học thân thiện. Điều đáng mừng là, cũng có một số trường phổ thông ngoài công lập sau một thời gian hoạt động đã chú ý đầu tư một cách toàn diện ở quy mô không thua kém nhà nước đầu tư cho các trường công lập mới để khẳng định thương hiệu của trường như các trường: Trương Vĩnh Ký, Ngôi Sao, Hồng Đức, Chu Văn An, Ngô Thời Nhiệm... Qua đó, xã hội có thêm những ngôi trường khang trang, đẹp, môi trường thông thoáng.

Môi trường nội trú

Nội trú là thế mạnh của các trường ngoài công lập, đáp ứng được nhu cầu cho một bộ phận phụ huynh không có điều kiện chăm sóc dạy dỗ con cái (nhất là học sinh ở tỉnh khác), nhà trường cũng có điều kiện về thời gian để củng cố và nâng cao kiến thức cho học sinh. Tuy nhiên, vấn đề quản lý học sinh nội trú cũng là vấn đề đáng quan tâm.

Học sinh nội trú xa gia đình, thiếu sự chăm sóc của cha mẹ, do đó, giáo viên quản lý nội trú ngoài nhiệm vụ quản lý còn thay thế vai trò của phụ huynh trong cuộc sống tinh thần của các em. Giáo viên quản lý nội trú phải có một số yêu cầu bắt buộc mà tuổi tác là điều kiện hàng đầu nên thuộc lứa tuổi cha chú các em, có kinh nghiệm sống thực tế, hiểu biết tâm lý tuổi học trò thì mới tạo cho các em sự tin tưởng, kính trọng và là chỗ dựa tinh thần cho các em. Thực tế đội ngũ quản lý nội trú ở đa số các trường ngoài công lập là các sinh viên mới tốt nghiệp (thường gốc các tỉnh), chưa có điều kiện giảng dạy. Đội ngũ này, tuổi đời không hơn các em nhiều (có thể bằng tuổi anh hay chị học sinh), lại thiếu vốn sống, thiếu hiểu biết tâm lý, thiếu sự kính trọng và tin tưởng của học sinh, đó là chưa kể những tiêu cực trong môi trường nội trú đã trở thành hiện tượng tương đối phổ biến (quan hệ giữa giáo viên quản lý nội trú, sinh viên và học sinh tùy thuộc vào sự "biết điều" của Phụ huynh).

Các trường công lập việc đánh học trò bị nghiêm cấm, còn các trường ngoài công lập thì roi vọt là biện pháp chủ yếu để bắt học sinh học bài và giữ gìn kỷ luật (có sự đồng ý của phụ huynh). Các trường có thương hiệu thì biện pháp kỷ luật càng mạnh (roi vọt càng nhiều).

Các trường ngoài công lập đều có các lớp 1 buổi, 2 buổi, bán trú và nội trú, tuy nhiên đa số các trường đều vận động phụ huynh cho con em học bán trú hoặc nội trú (dù cơ sở vật chất chưa đảm bảo) với lý do nhà trường có điều kiện thời gian dạy các em tốt hơi (điều này cũng hợp lý vì học 2 buổi/ngày đang là mục tiêu của ngành trong việc giáo dục toàn diện cho học sinh), còn một yếu tố khác có vai trò rất quan trọng đó là yếu tố lợi nhuận.

Cuộc sống và sinh hoạt của học sinh nội trú với thời gian biểu trong ngày rất khít khao. Sáng 5 tiết học (7g đến 1lg30, chiều 3 tiết học (13g đến 16g), học phụ đạo 2 tiết (17g đến 19g). Riêng nội trú tự thêm 2 tiết tự học (19g đến 21g) có giáo viên dò bài. Lịch học như vậy cũng có tác dụng với các học sinh không chăm đồng thời cũng nhẹ gánh quản lý cho nhà trường vì các em không còn thời gian quậy phá (tuổi trẻ mà). Học sinh nội trú đã thiệt thòi vì phải xa gia đình nên cần môi trường sinh hoạt và học tập như một gia đình thứ hai. Trong khi đó, với cách quản lý nặng về kỷ luật, thời gian biểu như trại lính sẽ là thiệt thòi cho các em. Đừng để môi trường nội trú như "một nhà giam tâm hồn".

Hoạt động của nhà trường ngoài công lập, xét cho cùng là hoạt động kinh doanh (trong lãnh vực giáo dục), mà có kinh doanh thì yếu tố lợi nhuận được đặt lên hàng đầu, khiến các trường học chỉ chú tâm vào việc khai thác lợi nhuận. Bằng chứng là rất nhiều cảnh báo về việc trường được thành lập nhưng không đầu tư cơ sở vật chất.

Sự phát triển của các trường phổ thông ngoài công lập là cần thiết, đã đóng góp nhất định vào sự phát triển của giáo dục thành phố mà trước mắt là chia sẻ số học sinh quá tải trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Năm học 2007 - 2008, chỉ tính riêng khối THCS và THPT thì số lượng học sinh ngoài công lập là 100.787 học sinh trên tổng số 504.314 học sinh của thành phố. Năm học 2009 - 2010, theo dự kiến của Sở Giáo dục - Đào tạo thì số học sinh vào lớp 10 là 83.371 trong đó khả năng tiếp nhận của hệ công lập là 57.028 học sinh (76,8%), số còn lại 26.343 (23,2%) em sẽ vào trường ngoài công lập.

Với 71 trường phổ thông ngoài công lập hiện có, áp lực về số lượng học sinh quá tải trên địa bàn thành phố đã giảm nhiều (thực tế có khoảng 30% học sinh của các tỉnh khác học trong các trường phổ thông ngoài công lập). Số học sinh ngoài công lập chiếm 1/5 số học sinh của thành phố, và đây cũng là nguồn nhân lực tương lai của thành phố, thiết nghĩ ngành giáo dục thành phố cần quan tâm đến quy mô phát triển của hệ phổ thông ngoài công lập.

Để cho hệ thống mạng lưới trường học được phân bổ hợp lý và đáp ứng các chuẩn mực của giáo dục thì quy hoạch xây dựng hệ thống trường học (cả hệ thống công lập và ngoài công lập) đi liền với quy hoạch đô thị để dành quỹ đất xây dựng trường học. Trong đề án quy hoạch mạng lưới trường ở thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, UBND thành phố đã phê duyệt và dành quỹ đất xây dựng. Tuy nhiên, quy hoạch quỹ đất cho hệ thống các trường ngoài công lập chưa được đề cập đến. Tháng 11 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt dự án: "Xây dựng cơ chế thí điểm việc Nhà nước xây dựng cơ sở hạ tầng cho các đơn vị ngoài công lập thuê dài hạn" do Bộ Xây dựng đề xuất. Tuy nhiên, việc triển khai còn nhiều bất cập mà nguyên nhân chủ yếu là quỹ đất chưa có.

Thành phố Hồ Chí Minh phấn đấu đến năm 2020 thì có 100% hệ thống trường công lập sẽ đạt chuẩn quốc gia và định hình mạng lưới trường lớp hoàn chỉnh trên các địa bàn dân cư, còn các trường phổ thông ngoài công lập thì chưa có chỉ tiêu phấn đấu. Ngay từ bây giờ, thành phố cần có chủ trương chỉ cho phép thành lập các trường ngoài công lập mà quy mô xây dựng đạt chuẩn hoặc phải có cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên cơ hữu đảm bảo việc giảng dạy và học, kêu gọi và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư lớn tham gia vào việc xây dựng trường mới.

Đội ngũ giáo viên quản lý học sinh nội trú không nhất thiết phải có trình độ đại học, trung cấp chỉ cần cao đẳng cũng được, nhưng tuổi đời phải nhất thiết từ 40 trở lên, có học về tâm lý sư phạm để có thể kiêm nhiệm thêm vai trò là phụ huynh học sinh trong môi trường nội trú, được Sở hay Phòng Giáo dục quận huyện tập huấn thường xuyên.

Biện pháp giáo dục trong đó thời gian biểu học tập như hiện nay của học sinh các trường ngoài công lập (nhất là học sinh nội trú) cũng cần được xem xét dưới góc độ khoa học. Trường học là nơi vừa dạy chữ vừa dạy làm người chứ không phải chỉ dạy chữ và trông giữ học sinh.

Biện pháp quản lý học sinh với hình phạt đòn roi là vi phạm nguyên tắc sư phạm, thực tế biện pháp này tỏ ra có tác dụng với một bộ phận học sinh cá biệt nhưng không thể xem là biện pháp duy nhất và càng không nên lạm dụng.

Hệ thống trường ngoài công lập ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục chung, có ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp giáo dục nước nhà. Do đó, nhà nước và ngành giáo dục phải có sự quan tâm như với hệ thống trường công lập, nếu không có định hướng từ bây giờ, cứ để trình trạng tự phát triển sẽ đến những bất cập khó khắc phục.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.