Sử dụng tài nguyên nước và một số biện pháp bảo vệ
Tổng lượng nước có khả năng sử dụng trong mùa khô trên toàn lãnh thổ nước ta khoảng 165 tỉ m3, trong đó lượng dòng chảy sông suối xấp xỉ 140 tỉ m3, nước dưới đất 8,2 tỉ m3 và 19,8 tỉ m3 được các hồ chứa điều tiết.
Nhu cầu sử dụng nước của các ngành kinh tế nước ta trong mùa khô những năm qua cho thấy là rất lớn và không ngừng tăng lên. Tổng lượng nước cần sử dụng trong mùa khô năm 2000 là trên 70 tỉ m3, nghĩa là chiếm tới trên 40% tổng lượng nước có khả năng cung cấp trong mùa khô, ở nhiều vùng tổng lượng nước cần sử dụng đã vượt quá 50% tổng lượng nước có khả năng cung cấp. Rõ ràng, nguy cơ thiếu nước trong mùa khô ở các vùng trên lãnh thổ nước ta là rất cao. Thông thường với các sông có nguồn nước phong phú thì nhu cầu sử dụng nước trong mùa khô không vượt quá 10 đến 20% lượng nước dòng chảy mùa, nhưng ở nước ta tỷ lệ này có thể vượt trên 30% thậm chí trên 100% đối với các sông trong vùng khô hạn, thiếu nước như khu vực Nam Trung bộ. Căn cứ vào chỉ tiêu đánh giá về tình trạng thiếu nước của UNESCO và tổ chức khí tượng thế giới WMO, thì ở những vùng trên của nước ta đang chịu sức ép lớn vì khan hiếm nước theo mùa.
Dự báo tới năm 2010, tổng lượng nước cần dùng sẽ gia tăng đáng kể trong tất cả các vùng. Nước cần dùng có thể lên tới 90 tỉ m3, nghĩa là chiếm tới trên 50% tổng lượng nước có thể cung cấp hay 65% tổng lượng dòng chảy sông ngòi ứng với tần suất 75%.
Trong quá trình phát triển kinh tế đòi hỏi các quốc gia đã triệt để khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có nguồn tài nguyên nước (nước mặt và nước ngầm), mà hậu quả thường thấy là những tác động tiêu cực đến môi trường, đặc biệt là môi trường nước. ngoài những nguyên nhân gây ảnh hưởng xấu tới môi trường nước như: việc khai thác rừng bừa bãi làm giảm nhanh độ che phủ, quá trình đô thị nhanh làm suy giảm khả năng điều tiết của lưu vực, còn có yếu tố gây ảnh hưởng tiêu cực phát sinh từ thực trạng sử dụng tài nguyên nước của các ngành kinh tế. Cụ thể, một số ngành kinh tế và dân sinh đã sử dụng tài nguyên nước như sau:
Nước phục vụ đời sống con người
Nước ta hiện nay có trên 600 đô thị với trên 60 công ty cấp nước và trên 240 hệ thống cấp nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất ở các thành phố, tỉnh và thị xã trực thuộc tỉnh. Tổng công suất thiết kế của các nhà máy cấp nước là 3,2 triệu m3/ ngày. Đối với các thị xã nhỏ, các huyện lị mới có khoảng 25% có hệ thống cấp nước tập trung với công suất là 433.000 m3/ngày. Ở khu vực nông thôn nơi tập trung 80% dân số cả nước, ở dây người ta sử dụng tất cả các nguồn nước: giếng khoan, giếng đào, nước mưa, nước ao hồ. Chưa thống kê được đầy đủ nhu cầu sử dụng nước ở khu vực này, nhưng chắc chắn khối lượng nước cần sử dụng là rất lớn.
Nước phục vụ công nghiệp và phát điện
Nước sử dụng trong công nghiệp, chủ yếu được cung cấp từ nguồn nước mặt. Những ngành sử dụng nhiều nước như ngành than, hóa chất, phân bón, thuộc da, xà phòng. Đến nay, nước ta đang có hàng trăm khu công nghiệp tập trung với nhu cầu cấp nước bình quân là 50 m3/ ha/ ngày đêm và trong tương lai lượng nước cung cấp cho các khu công nghiệp là không nhỏ.
Thủy điện ở nước ta hiện nay giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp điện năng cho đất nước. Nhu cầu cung cấp điện năng trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa tăng lên không ngừng, do vậy ngành thủy điện cũng phát triển nhanh chóng. Tiềm năng thủy điện của nước ta ước tính khoảng 17.700 MW và đang được quan tâm khai thác triệt để. Hiện nước ta có 500 nhà máy thủy điện nhỏ với điện năng sản xuất gần 4 triệu KWh/ năm. Ngành điện đã xây dựng tổng sơ đồ phát triển thủy điện trong tương lai và khi đó có thể nói về cơ bản các dòng sông đã bị chế ngự.
Nước cho nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sử dụng nước nhiều nhất. Lượng nước sử dụng cho trồng trọt, chăn nuôi năm 2000 chiếm tới 85% lượng nước tiêu thụ. Dự kiến năm 2010, lượng nước dùng cho nông nghiệp ước tính trên 90 tỉ m3. Tuy vậy, cơ sở hạ tầng phân phối nước sau các công trình đầu mối của ta hiện đã xuống cấp, gây thất thoát nước dẫn đến lãng phí tài nguyên nước.
Nước dùng cho nuôi trồng và chế biến thủy sản
Nuôi trồng và chế biến thủy sản đang được ưu tiên phát triển nhằm mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Định hướng sử dụng diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản dự kiến vào năm 2010 đạt 1.400.000 ha với mức sử dụng nước cho 1 ha nuôi trồng là 45.000 m3, và khoảng 200 đến 300 m3 nước cho một tấn sản phẩm chế biến. Chỉ tính riêng trong năm 2000, lượng nước cần dùng cho nuôi trồng và chế biến thủy sản đã lên tới 2.272 tỉ m3. Những năm gần đây ở một số tỉnh ven biển còn phát triển nghề nuôi tôm trên cát với phương thức sử dụng cả nước biển và nước ngầm, đây là vấn đề mà các cấp, các ngành, ở các địa phương có phong trào này cần quan tâm, bởi bên cạnh lợi ích mang lại còn có những tác động xấu ảnh hưởng đến môi trường, đặc biệt là môi trường nước.
Ngoài ra, ngành giao thông vận tải cũng là ngành sử dụng nước không tiêu hao, nhưng phụ thuộc rất nhiều vào các quy hoạch lưu vực sông, cụ thể là phụ thuộc vào cách thức quản lý, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước.
Một số biện pháp bảo vệ tài nguyên nước
Sự gia tăng nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt và sản xuất đã đẩy nhanh tốc độ khai thác nước, đặc biệt là nước dưới đất (nước ngầm), do vậy chúng ta cần thực hiện một số biện pháp để bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này.
1/ Cần tuyên truyền cho mọi người nhận thức được rằng nước dưới đất (nước ngầm) là nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt quan trọng, cần có biện pháp bảo vệ, giữ gìn để sử dụng lâu dài. Tuy nhiên, ở một số nơi xảy ra hiện tượng khai thác quá mức nước dưới đất đã làm giảm mực nước ngầm, gây sụt lún đất làm hư hại các công trình trên mặt đất. Cá biệt, có lúc, có nơi đã không thực hiện nghiệm quy trình khai thác, thăm dò nước dưới đất gây nên tình trạng ô nhiễm, làm suy giảm chất lượng nguồn nước có giá trị này. Do vậy, việc khai thác, khoan thăm dò nước dưới đất cần tuân thủ đúng các quy định về kĩ thuật khai thác, cũng như các quy định của pháp luật.
2/ Việc chặn các dòng sông để xây dựng đập thủy điện trong nhiều trường hợp đã gây nên tình trạng đứt dòng, nghĩa là làm mất hoàn toàn dòng chảy phía hạ lưu công trình, gây những ảnh hưởng xấu cho môi trường sinh thái, phát triển bền vững. Cho nên cần có quy trình điều tiết trên nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên nước nhằm giải quyết thỏa đáng về lợi ích của các ngành dùng nước, lợi ích giữa thượng lưu và hạ lưu công trình, lợi ích của từng ngành với lợi ích chung của toàn vùng, toàn lưu vực.
3/ Chất lượng nguồn nước luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu, liên quan trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng, được xem là một trong những mốc cơ bản để đánh giá chất lượng cuộc sống, nhưng trong quá trình phát triển kinh tế đã làm gia tăng chất thải, nước thải gây ô nhiễm nguồn nước. Các chất thải công nghiệp trong hoạt động khai khoáng, từ các nhà máy hóa chất, phân bón, thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp cùng với sự thiếu hiểu biết của người sử dụng nước, đang làm suy giảm mạnh chất lượng nguồn nước, kể cả nước mặt và nước ngầm. Cho nên cần phải có các biện pháp kỹ thuật, kinh phí để xử lý chất thải, nước thải trước khi đổ ra tự nhiên. Cần xử phạt nghiêm khắc những đối tượng đổ chất thải, nước thải công nghiệp chưa được xử lý vào thẳng sông suối theo đúng luật định.
4/ Phải sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên nước trong mọi lĩnh vực kinh tế, dân sinh và nếu có thể cần có những giải pháp kỹ thuật tiên tiến để xử lý nước thải, nằm tái sử dụng lại nguồn nước thải trong một số trường hợp mang lại lợi ích kinh tế và cũng là một trong những giải pháp để tiết kiệm và bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này.








