Sử dụng hiệu quả tài nguyên nước ở Tây Nguyên
Tây Nguyên thiếu nước
Nguồn nước mặt ở Tây Nguyên đang khan hiếm. Mùa mưa xuất hiện không đồng thời trên toàn khu vực. Lượng mưa trong mùa mưa chiếm 80 – 90% lượng mưa cả năm. Trong khi mùa khô kéo dài 5 – 6 tháng liên tục từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 10 – 20% lượng mưa năm. Do đó, hạn hán thường xuyên xảy ở Tây Nguyên trong mùa khô.
Khu vực Tây Nguyên là nơi hình thành của 4 hệ thống sông lớn: sông Ba, sông Đồng Nai, sông Sê San và Srêpôc. Vào mùa mưa, nước mưa tập trung tạo nên dòng chảy mặt rất lớn, nhưng do địa hình – địa mạo núi cao, sườn dốc, đặc điểm địa chất, nên phần lớn lượng nước này không lưu giữ lại được trong lưu vực sông mà đổ hết xuống hạ lưu.
Ở trung và thượng lưu trên các sông nhánh, các suối nhỏ, nhất là ở khu vực tập trung cây công nghiệp sử dụng hàng trăm các đập dâng nhỏ lấy nước tự nhiên để tưới. Người dân đặt nhiều bơm lấy nước trực tiếp của các suối cho tưới cà phê mà có rất ít các hồ chứa nhỏ tạo nguồn. Vì thế, làm cho phần lớn các nhánh suối nhỏ bị cạn kiệt nước trong các tháng mùa cạn, gây nên tình trạng hạn hán và khan hiếm nước cục bộ trên các nhánh, chi lưu…
Theo TS Lã Thanh Hà, Viện Khoa học KTTV và Môi trường cho biết, ở Tây Nguyên sự phân bố đặc biệt sâu sắc giữa mùa lũ và mùa kiệt đã gây ra tình trạng thiếu nước mặt, nước ngầm trong mùa khô, đòi hỏi cần có sự phân phối lại trong năm. Việc sử dụng khai thác nước không hợp lý, quy hoạch sử dụng mang tính ngành, thiếu tính tổng hợp làm hạn chế hiệu quả quy mô nguồn nước. Trong khi đó, nguồn nước ngầm đang bị suy giảm nhanh, mà chưa có biện pháp bổ sung nhân tạo nhằm tăng lượng nước có khả năng sử dụng trong mùa cạn…
Cho nên, một trong những vấn đề quan trọng nhất trong việc khai thác sử dụng nước Tây Nguyên là làm sao lưu giữ được nguồn nước mưa và chống chất thất thoát nguồn nước để khai thác sử dụng vào mùa khô.
Sử dụng hiệu quả tài nguyên nước
Nguồn nước mặt, nước ngầm ở Tây Nguyên khan hiếm, nên việc sử dụng nước ngày càng trở nên quan trọng do nhu cầu phát triển kinh tế và gia tăng dân số. Các cơ chế chính sách giải quyết các xung đột về sử dụng nước ở khu vực này vẫn trong giai đoạn được xây dựng. Trong những năm gần đây, hoạt động kinh tế ở khu vực Tây Nguyên được gia tăng, trước hết là sản xuất nông nghiệp, trong đó ngoài diện tích truyền thống trồng lúa, sắn, nhiều diện tích rừng được chuyển đổi để trồng cà phê, cao su, hồ tiêu, hạt điều (Chính phủ đang cho triển khai thực hiện phát triển 10 vạn ha cao su ở Tây Nguyên đến năm 2015). Điều đó gây sức ép mạnh cho việc cấp nước, đặc biệt trong giai đoạn mùa khô – cạn, từ tháng 1 đến tháng 6, khi mà nguồn nước trở nên vô cùng khan hiếm. Trong điều kiện như vậy, để bảo đảm nước tưới, việc khai thác nước ngầm hiện đang được tiến hành rộng rãi ở nhiều nơi, dưới hình thức khai thác nước tập trung với qui mô vừa và lớn ở các đô thị hoặc khai thác bằng các giếng khoan của các hộ nông dân nhỏ lẻ.
Hiện nay, việc sử dụng nước tưới cho sản xuất cà phê ở Tây Nguyên đang quá mức cần thiết, có nghĩa là lượng nước sử dụng thêm bị tiêu tốn mà không làm tăng thêm sản lượng. Hơn nữa, đối với vùng có tần suất khô hạn cao như Tây Nguyên, điều này càng không cần thiết. Qua điều tra và phân tích việc sử dụng nước cho thấy, trong mùa khô, các chủ vườn cà phê dùng 1050 lít nước/ cây cho mỗi lần tưới cà phê. Tuy nhiên, để đạt được sản lượng tối đa chỉ cần sử dụng từ 400 – 650 lít nước với chế độ tưới 2 – 4 lần vào mùa khô. Điều này có nghĩa là các chủ vườn cà phê không tăng được sản lượng đầu ra khi họ sử dụng hơn 550 lít nước để tưới cho một cây trong mỗi lần tưới. Chính vì vậy, các chuyên gia khuyến nghị nếu các chủ vườn cà phê ở vùng cao nguyên Đăk Lăk áp dụng phương pháp tưới ba lần cách đều nhau, khoảng cách giữa các làn tưới là 20 ngày, với tổng lượng nước cho mỗi cây 550 lít trong mỗi lần tưới, mật độ là 1050 cây/ ha. Mỗi năm lượng nước sử dụng cho 130.000 ha cà phê vào mùa khô sẽ giảm được 340.000 triệu lít. Theo tính toán, lượng nước tiết kiệm được sẽ là 30% lượng nước trung bình hàng năm đổ vào tầng ngầm nước tự do của cao nguyên.
Chỉ riêng ở Đăk Lăk, với diện tích trồng cà phê lên đến 264000 ha, trong mùa khô cần khoảng 660 triệu m 3, nhưng nước mắt chỉ đáp ứng được 250 triệu m 3, còn lại phải khai thác nước ngầm để tưới. Do khai thác quá mức, mực nước ngầm nhiều nơi đã sụt giảm hàng mét, dẫn đến nguy cơ suy thoái lượng nước ngầm cũng như sụt lún đất. Một kết quả nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học cho thấy, các hộ dân ở Đăk Lăk đang sử dụng lượng phân bón cho cà phê lớn hơn rất nhiều so với lượng phân bón tối đa quy định. Nhận thức của người dân, cho rằng tưới nhiều nước, bón nhiều phân thì cây sẽ cho sản lượng cao, nhưng thực tế không phải vậy. Nếu sử dụng nước và phân bón không hợp lý, quá mức cần thiết, cây không hấp thụ hết, ngấm xuống các tầng chứa nước không những sẽ tiêu tốn nhiều tiền của dân mà còn tạo ra nguy cơ gây ô nhiễm nước dưới đất. Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng thêm nước cho sản xuất lúa có tạo ra gía trị kinh tế, nhưng rất thấp. Cụ thể, nếu người dân phải chi trả hơn 50 đồng/m 3nước thì việc trồng lúa nước vào mùa khô ở Đăk Lăk sẽ không đem lại lợi nhuận. Để giải quyết bài toán tiết kiệm nước trong việc trồng lúa ở Tây Nguyên, các chuyên gia khuyến nghị các hộ dân nên áp dụng biện pháp tưới “ngập – không ngập” sẽ tạo ra nhiều lợi nhuận hơn việc canh tác ngập thường xuyên như hiện nay. Kiểu canh tác “ngập – không ngập” cũng sẽ làm giảm đáng kể nhu cầu sử dụng nước, nhưng đồng thời không tăng nguồn cung sẵn có trên cao nguyên bởi vì cách thức canh tác ngập nước hiện tại cũng giúp tái tạo lại các nguồn nước ngầm.
Tây Nguyên là vùng sản xuất nông nghiệp quan trọng đầy tiềm năng của nước ta với tài nguyên quý hiếm được thiên nhiên ban tặng vlà vùng đất đỏ bazan rộng lớn thuận lợi cho canh tác các cây trồng, nhất là các cay trồng đặc sản nhiệt đới có giá trị kinh tế cao như cà phê, hồ tiêu, chè… Tuy nhiên, tài nguyên đất Bazan chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được các tài nguyên khác hỗ trợ, kết hợp chặt chẽ mà tài nguyên nước có tầm quan trọng hàng đầu. Do vậy, cần thiết phải nghiên cứu tính toán cân bằng và sử dụng nước trên vùng đất Bazan – Tây Nguyên bằng việc áp dụng những giải pháp tiết kiệm nước, giữ nước, giữ ẩm để giảm lượng nước tưới cho các cây trồng. Năm 2005, trong chuyến công tác và làm việc với đại diện chính quyền và lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực cũng cho rằng “Tây nguyên phải thay đổi cơ bản cơ cấu kinh tế và cây trồng, ưu tiên những ngành nghề và cây trồng sử dụng ít tài nguyên nước hơn. Nếu không quản lý tốt nguồn tài nguyên nước, Tây Nguyên có thể sẽ sớm phải đối mặt với tình trạng thoái hoá đất – hoang mạc hoá”.
Để quản lý, đảm bảo khai thác nước bền vững ở Tây Nguyên, Cục Quản lý Tài nguyên nước đã thực hiện Dự án “Quản lý sử dụng nước ngầm ở Tây Nguyên, Việt Nam” nhằm hỗ trợ quá trình xây dựng chính sách về nước ở tỉnh Đăk Lăk. Đây là một trong những dự án đầu tiên nghiên cứu để xây dựng phương án luận, phương pháp tính giá trị kinh tế của tài nguyên nước cho các mục đích sử dụng nước. Mục tiêu chính của dự án nghiên cứu này là hỗ trợ quá trình xây dựng chính sách về nước ở tỉnh Đăk Lăk; thực hiện các nghiên cứu ước tính giá trị kinh tế của việc cung cấp thêm nước cho các đối tượng sử dụng thuộc tỉnh… nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên nước ở Đăk Lăk nói riêng, vùng Tây Nguyên rộng lớn nói chung.








