Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 30/12/2010 22:02 (GMT+7)

Sử dụng hiệu quả tài nguyên nước ở Tây Nguyên

Tây Nguyên thiếu nước

Nguồn nước mặt ở Tây Nguyên đang khan hiếm. Mùa mưa xuất hiện không đồng thời trên toàn khu vực. Lượng mưa trong mùa mưa chiếm 80 – 90% lượng mưa cả năm. Trong khi mùa khô kéo dài 5 – 6 tháng liên tục từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 10 – 20% lượng mưa năm. Do đó, hạn hán thường xuyên xảy ở Tây Nguyên trong mùa khô.

Khu vực Tây Nguyên là nơi hình thành của 4 hệ thống sông lớn: sông Ba, sông Đồng Nai, sông Sê San và Srêpôc. Vào mùa mưa, nước mưa tập trung tạo nên dòng chảy mặt rất lớn, nhưng do địa hình – địa mạo núi cao, sườn dốc, đặc điểm địa chất, nên phần lớn lượng nước này không lưu giữ lại được trong lưu vực sông mà đổ hết xuống hạ lưu.

Ở trung và thượng lưu trên các sông nhánh, các suối nhỏ, nhất là ở khu vực tập trung cây công nghiệp sử dụng hàng trăm các đập dâng nhỏ lấy nước tự nhiên để tưới. Người dân đặt nhiều bơm lấy nước trực tiếp của các suối cho tưới cà phê mà có rất ít các hồ chứa nhỏ tạo nguồn. Vì thế, làm cho phần lớn các nhánh suối nhỏ bị cạn kiệt nước trong các tháng mùa cạn, gây nên tình trạng hạn hán và khan hiếm nước cục bộ trên các nhánh, chi lưu…

Theo TS Lã Thanh Hà, Viện Khoa học KTTV và Môi trường cho biết, ở Tây Nguyên sự phân bố đặc biệt sâu sắc giữa mùa lũ và mùa kiệt đã gây ra tình trạng thiếu nước mặt, nước ngầm trong mùa khô, đòi hỏi cần có sự phân phối lại trong năm. Việc sử dụng khai thác nước không hợp lý, quy hoạch sử dụng mang tính ngành, thiếu tính tổng hợp làm hạn chế hiệu quả quy mô nguồn nước. Trong khi đó, nguồn nước ngầm đang bị suy giảm nhanh, mà chưa có biện pháp bổ sung nhân tạo nhằm tăng lượng nước có khả năng sử dụng trong mùa cạn…

Cho nên, một trong những vấn đề quan trọng nhất trong việc khai thác sử dụng nước Tây Nguyên là làm sao lưu giữ được nguồn nước mưa và chống chất thất thoát nguồn nước để khai thác sử dụng vào mùa khô.

Sử dụng hiệu quả tài nguyên nước

Nguồn nước mặt, nước ngầm ở Tây Nguyên khan hiếm, nên việc sử dụng nước ngày càng trở nên quan trọng do nhu cầu phát triển kinh tế và gia tăng dân số. Các cơ chế chính sách giải quyết các xung đột về sử dụng nước ở khu vực này vẫn trong giai đoạn được xây dựng. Trong những năm gần đây, hoạt động kinh tế ở khu vực Tây Nguyên được gia tăng, trước hết là sản xuất nông nghiệp, trong đó ngoài diện tích truyền thống trồng lúa, sắn, nhiều diện tích rừng được chuyển đổi để trồng cà phê, cao su, hồ tiêu, hạt điều (Chính phủ đang cho triển khai thực hiện phát triển 10 vạn ha cao su ở Tây Nguyên đến năm 2015). Điều đó gây sức ép mạnh cho việc cấp nước, đặc biệt trong giai đoạn mùa khô – cạn, từ tháng 1 đến tháng 6, khi mà nguồn nước trở nên vô cùng khan hiếm. Trong điều kiện như vậy, để bảo đảm nước tưới, việc khai thác nước ngầm hiện đang được tiến hành rộng rãi ở nhiều nơi, dưới hình thức khai thác nước tập trung với qui mô vừa và lớn ở các đô thị hoặc khai thác bằng các giếng khoan của các hộ nông dân nhỏ lẻ.

Hiện nay, việc sử dụng nước tưới cho sản xuất cà phê ở Tây Nguyên đang quá mức cần thiết, có nghĩa là lượng nước sử dụng thêm bị tiêu tốn mà không làm tăng thêm sản lượng. Hơn nữa, đối với vùng có tần suất khô hạn cao như Tây Nguyên, điều này càng không cần thiết. Qua điều tra và phân tích việc sử dụng nước cho thấy, trong mùa khô, các chủ vườn cà phê dùng 1050 lít nước/ cây cho mỗi lần tưới cà phê. Tuy nhiên, để đạt được sản lượng tối đa chỉ cần sử dụng từ 400 – 650 lít nước với chế độ tưới 2 – 4 lần vào mùa khô. Điều này có nghĩa là các chủ vườn cà phê không tăng được sản lượng đầu ra khi họ sử dụng hơn 550 lít nước để tưới cho một cây trong mỗi lần tưới. Chính vì vậy, các chuyên gia khuyến nghị nếu các chủ vườn cà phê ở vùng cao nguyên Đăk Lăk áp dụng phương pháp tưới ba lần cách đều nhau, khoảng cách giữa các làn tưới là 20 ngày, với tổng lượng nước cho mỗi cây 550 lít trong mỗi lần tưới, mật độ là 1050 cây/ ha. Mỗi năm lượng nước sử dụng cho 130.000 ha cà phê vào mùa khô sẽ giảm được 340.000 triệu lít. Theo tính toán, lượng nước tiết kiệm được sẽ là 30% lượng nước trung bình hàng năm đổ vào tầng ngầm nước tự do của cao nguyên.

Chỉ riêng ở Đăk Lăk, với diện tích trồng cà phê lên đến 264000 ha, trong mùa khô cần khoảng 660 triệu m 3, nhưng nước mắt chỉ đáp ứng được 250 triệu m 3, còn lại phải khai thác nước ngầm để tưới. Do khai thác quá mức, mực nước ngầm nhiều nơi đã sụt giảm hàng mét, dẫn đến nguy cơ suy thoái lượng nước ngầm cũng như sụt lún đất. Một kết quả nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học cho thấy, các hộ dân ở Đăk Lăk đang sử dụng lượng phân bón cho cà phê lớn hơn rất nhiều so với lượng phân bón tối đa quy định. Nhận thức của người dân, cho rằng tưới nhiều nước, bón nhiều phân thì cây sẽ cho sản lượng cao, nhưng thực tế không phải vậy. Nếu sử dụng nước và phân bón không hợp lý, quá mức cần thiết, cây không hấp thụ hết, ngấm xuống các tầng chứa nước không những sẽ tiêu tốn nhiều tiền của dân mà còn tạo ra nguy cơ gây ô nhiễm nước dưới đất. Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng thêm nước cho sản xuất lúa có tạo ra gía trị kinh tế, nhưng rất thấp. Cụ thể, nếu người dân phải chi trả hơn 50 đồng/m 3nước thì việc trồng lúa nước vào mùa khô ở Đăk Lăk sẽ không đem lại lợi nhuận. Để giải quyết bài toán tiết kiệm nước trong việc trồng lúa ở Tây Nguyên, các chuyên gia khuyến nghị các hộ dân nên áp dụng biện pháp tưới “ngập – không ngập” sẽ tạo ra nhiều lợi nhuận hơn việc canh tác ngập thường xuyên như hiện nay. Kiểu canh tác “ngập – không ngập” cũng sẽ làm giảm đáng kể nhu cầu sử dụng nước, nhưng đồng thời không tăng nguồn cung sẵn có trên cao nguyên bởi vì cách thức canh tác ngập nước hiện tại cũng giúp tái tạo lại các nguồn nước ngầm.

Tây Nguyên là vùng sản xuất nông nghiệp quan trọng đầy tiềm năng của nước ta với tài nguyên quý hiếm được thiên nhiên ban tặng vlà vùng đất đỏ bazan rộng lớn thuận lợi cho canh tác các cây trồng, nhất là các cay trồng đặc sản nhiệt đới có giá trị kinh tế cao như cà phê, hồ tiêu, chè… Tuy nhiên, tài nguyên đất Bazan chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được các tài nguyên khác hỗ trợ, kết hợp chặt chẽ mà tài nguyên nước có tầm quan trọng hàng đầu. Do vậy, cần thiết phải nghiên cứu tính toán cân bằng và sử dụng nước trên vùng đất Bazan – Tây Nguyên bằng việc áp dụng những giải pháp tiết kiệm nước, giữ nước, giữ ẩm để giảm lượng nước tưới cho các cây trồng. Năm 2005, trong chuyến công tác và làm việc với đại diện chính quyền và lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực cũng cho rằng “Tây nguyên phải thay đổi cơ bản cơ cấu kinh tế và cây trồng, ưu tiên những ngành nghề và cây trồng sử dụng ít tài nguyên nước hơn. Nếu không quản lý tốt nguồn tài nguyên nước, Tây Nguyên có thể sẽ sớm phải đối mặt với tình trạng thoái hoá đất – hoang mạc hoá”.

Để quản lý, đảm bảo khai thác nước bền vững ở Tây Nguyên, Cục Quản lý Tài nguyên nước đã thực hiện Dự án “Quản lý sử dụng nước ngầm ở Tây Nguyên, Việt Nam” nhằm hỗ trợ quá trình xây dựng chính sách về nước ở tỉnh Đăk Lăk. Đây là một trong những dự án đầu tiên nghiên cứu để xây dựng phương án luận, phương pháp tính giá trị kinh tế của tài nguyên nước cho các mục đích sử dụng nước. Mục tiêu chính của dự án nghiên cứu này là hỗ trợ quá trình xây dựng chính sách về nước ở tỉnh Đăk Lăk; thực hiện các nghiên cứu ước tính giá trị kinh tế của việc cung cấp thêm nước cho các đối tượng sử dụng thuộc tỉnh… nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên nước ở Đăk Lăk nói riêng, vùng Tây Nguyên rộng lớn nói chung.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

5 nhà khoa học của Liên hiệp Hội Việt Nam được tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” năm 2026
Sáng 2/10/2026, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức Chương trình tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” lần thứ VII và trao giải Cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật Nhà nông” toàn quốc lần thứ XI năm 2026. Trong số 42 cá nhân được tôn vinh năm nay có 5 nhà khoa học do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu.
Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.