Siêu âm tim trong chẩn đoán và điều trị tứ chứng fallot
Tứ chứng Fallot là bệnh tim bẩm sinh thường gặp nhất, bao gồm 4 tổn thương: thông liên thất, hẹp van hay hẹp phễu thất phải hoặc cả hai, động mạch chủ cưỡi ngựa và phì đại thất phải. Tiên lượng bệnh thường nặng và tới 90% bệnh nhân không sống quá 20 tuổi. Phẫu thuật là phương tiện duy nhất giúp điều trị căn bệnh này, tuy nhiên, kết quả phẫu thuật còn tùy thuộc vào chẩn đoán chính xác các thương tổn cũng như chỉ định phương pháp phẫu thuật thích hợp (sửa chữa tạm thời hay triệt để).
Trước kia, chẩn đoán tứ chứng Fallot dựa vào các dấu hiệu gợi ý của lâm sàng, xác định bằng cận lâm sàng như ECG, X quang ngực và thông tim chụp mạch (rất cần thiết để xác định bệnh và có chỉ định phẫu thuật sửa chữa tạm thời hay phẫu thuật triệt để). Tuy nhiên thông tim chụp mạch là một phương pháp xâm nhập do đó có nguy cơ gây hại và không thể thực hiện nhiều lần để theo dõi bệnh sau phẫu thuật.
Khắc phục tình trạng này, GS.BS. Phạm Nguyễn Vinh, GS.BS. Hoàng Trọng Kim và các cộng sự đã nghiên cứu kỹ thuật siêu âm 2D (hai chiều) và Doppler màu thay thế cho thông tim trong chẩn đoán và chỉ định phẫu thuật tứ chứng Fallot.
Ưu điểm của siêu âm tim là không xâm nhập nên có thể thực hiện nhiều lần trên cùng người bệnh và lại ít tốn kém hơn so với thông tim. Siêu âm 2D rất hữu ích trong khảo sát các cấu trúc của tim; Doppler giúp khảo sát vận tốc dòng máu từ đó phát hiện dòng chảy thông của bệnh tim bẩm sinh, các van bị hẹp hay hở, các chỗ nghẽn của mạch máu xuất phát từ tim.
Kết quả nghiên cứu trên 1.142 bệnh nhân cho thấy, siêu âm tim giúp xác định 2 tổn thương chính của tứ chứng Fallot là thông liên thất và hẹp động mạch phổi với độ nhạy 100%. Bác sĩ có tay nghề cao có thể đo chính xác được kích thước vòng van động mạch phổi và 2 nhánh là yếu tố quan trọng trong chỉ định phẫu thuật. Từ kết quả trên, các bác sĩ đã đưa ra một quy trình cụ thể để chẩn đoán và hướng dẫn điều trị tứ chứng Fallot bằng siêu âm tim tương đối đơn giản, có thể ứng dụng được trong điều kiện hiện nay.
Siêu âm tim 2D và Doppler màu còn giúp khảo sát các biến chứng sau phẫu thuật, phát hiện và theo dõi lâu dài các khiếm khuyết tồn lưu và bất thường huyết động, có thể thực hiện ngay trong hồi sức nếu có nghi ngờ, kiểm tra trước khi ra viện, vào tháng thứ 6 sau mổ và mỗi năm sau đó.
Nguồn: Khoa học phổ thông, 02/03/2007








