Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 06/12/2010 18:21 (GMT+7)

Sắp xếp lại cơ cấu hệ thống chính quyền đô thị theo tinh thần nghị quyết hội nghị trung ương 5 khóa X của Đảng

Với vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi vùng, địa phương, các đô thị cần phải như là bộ phận hạt nhân của các đơn vị hành chính - lãnh thổ lớn hơn gắn kết chặt chẽ với các đơn vị hành chính - lãnh thổ ngoại vi và các khu vực lân cận thành các vùng, các khu vực lãnh thổ, mà trong đó, giữa các đơn vị hành chính - lãnh thổ được liên kết với nhau để cùng giải quyết những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội, về cung ứng dịch vụ công và đáp ứng kịp thời với tốc độ đô thị hóa tại các địa phương. Sự phát triển của các đô thị hiện nay đang đặt ra những thách thức mới đối với năng lực của chính quyền đô thị. Cụ thể:

- Thách thức trong việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến phát triển sản xuất - kinh doanh, dịch vụ và các hoạt động văn hóa xã hội đối với yêu cầu và tiềm năng dồi dào về phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội ở đô thị khả năng của chính quyền đô thị trong việc đáp ứng những yêu cầu chính đáng của doanh nghiệp và công dân, trong việc giải quyết các vấn ơế về thể chế, chính sách, môi trường pháp lý cho các hoạt động sân xuất - kinh doanh và cung ứng dịch với công cộng đang rất hạn chế với nhiều phiền hà, sách nhiễu, thủ tục rườm rà. Cơ chế "xin cho" trong mối quan hệ giữa chính quyền với tổ chức và công dân chậm được khắc phục.

- Thách thức trong việc hoạch định và quản lý thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển đô thị của chính quyền đô thị đối với sự phát triển nhanh chóng, với quy mô ngày càng lớn về kết cấu hạ tầng, nhà đất, công trình công cộng... Sự yếu kém về tầm nhìn, về hoạch định chính sách, chiến lược phát triển đô thị của chính quyền đô thị dẫn đến tình trạng quy hoạch, kế hoạch phát triển đô thị thường xuyên bị thay đổi, điều chỉnh, phá vỡ ở hầu hết các loại đô thị. Điều này vô hình chung gây ra những tổn thất, lãng phí lớn các nguồn lực của Nhà nước và để lại những hậu quả kinh tế - xã hội nghiêm trọng, lâu dài ở các đô thị.

- Thách thức trong việc kiểm tra, kiểm soát và xử lý các vi phạm của chính quyền đô thị đối với yêu cầu nâng cao kỷ cương phép nước, ý thức chấp hành pháp luật và nhu cầu được bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người dân. Tình trạng kỷ cương phép nước bị buông lỏng đang là vấn đề đáng báo động, gây ra những bức bối đối với người dân ở nhiều đô thị.

- Thách thức giữa năng lực tổ chức cung ứng và quản lý các dịch vụ công của chính quyền đô thị đối với nhu cầu ngày càng cao và ngày càng đa dạng về dịch vụ công của người dân. Việc đảm bảo các nhu cầu tối thiểu về dịch vụ công như giao thông đô thị, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, an ninh trật tự, khám chữa bệnh, học tập, vui chơi, giải trí, cung cấp nước sạch... còn nhiều yếu kém nhưng chậm được khắc phục.

- Thách thức giữa đòi hỏi nâng cao hiệu lực hiệu quản quản lý nhà nước, yêu cầu hiện đại hóa nền hành chính, đổi mới vai trò, chức năng của chính quyền đô thị, đề cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền đô thị với năng lực thực thi công vụ và ý thức trách nhiệm, đạo đức công vụ. Những yếu kém về năng lực và đạo đức công chức trong bộ máy chính quyền đô thị là nguyên nhân trực tiếp, quan trọng của những hạn chế, thiếu sót, khuyết điểm trong hoạt động quản lý nhà nước và phục vụ người dân ở đô thị.

Những thách thức này, suy đến cùng vẫn là do năng lực quản lý và phục vụ yếu kém của chính quyền đô thị, chưa chuyển biến kịp với những yêu cầu phát triển đô thị ngày càng cao. Bản thân các đô thị đang đòi hỏi phải có một bộ máy tổ chức chính quyền đô thị phù hợp với những yếu tố, điều kiện phát triển trong điều kiện mới.

Sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương nói chung và chính quyền đô thị nôi riêng phải hướng tới xây dựng được một mô hình tổ chức và cơ chế vận hành bộ máy chính quyền phù hợp với đặc điểm, tính chất của địa phương, phù hợp với xu thế phát triển, trình độ phát triển của xã hội; từ đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng cung ứng dịch vụ công, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng, ngày càng cao của các tầng lớp dân cư, nhất là ở các đô thị, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nghị quyết Trung ương 5 khóa X của Đảng nêu rõ: "Tổ chức chính quyền đô thị phải bảo đảm tính thống nhất và liên thông trên địa bàn về quy hoạch đô thị, kết cấu hạ tầng (như điện, đường, cấp thoát nước, xử lý rác thân bảo vệ môi trường) và đời sống dân cư...", theo đó xác định:

- Cấp đô thị có hội đồng nhân dân là: Thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố thuộc tỉnh, thị xã. Không tổ chức hội đồng nhân dân ở quận và ở phường.

- Uỷ ban nhân dân quận, phường là đại diện của cơ quan hành chính cấp trên đặt tại địa bàn để thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và phân cấp của chính quyển cấp trên.

- Uỷ ban nhân dân quận, phường do uỷ ban nhân dân cấp trên bổ nhiệm, miễn nhiệm trên cơ sở xem xét nhân sự do cấp uỷ, quận, phường giới thiệu và được cấp có thẩm quyển quản lý cán bộ đồng ý.

- Tăng cường hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về số lượng, chất lượng đại biểu, về cơ sở vật chất, điều kiện làm việc.

Như vậy, theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 5 khóa X, việc thiết lập hệ thống chính quyền địa phương vừa đảm bảo phân biệt được chính quyền nông thôn với chính quyền đô thị, đồng thời vừa đảm bảo tính chỉnh thể thống nhất, phòng bị chia cắt về mặt lãnh thổ của một đô thị. Điều này có thể hiểu là: các đơn vị hành chính trong nội bộ đô thị (quận, phường) không có ý nghĩa về mặt lãnh thổ, không phải là một đơn vị hành chính - lãnh thổ. Các đơn vị hành chính thuần túy trong nội bộ đô thị chỉ có ý nghĩa về mặt quản lý hành chính, không có ý nghĩa về kinh tế - xã hội. Đây cũng là một trong những điều kiện tiên quyết để xây dựng bộ máy quản lý nhà nước ở đô thị phù hợp với tính chất, đặc điểm của đô thị về mặt hành chính - lãnh thổ, kết cấu hạ tầng, quy hoạch phát triển cũng như về hoạt động kinh tế xã hội, an ninh trật tự và đời sống của cộng đồng dân cư đô thị.

Theo Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tính và thị xã; thành phổ trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã; huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường. Để sắp xếp lại cơ cấu hệ thống chính quyền đô thị theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khoá X, xin đề xuất một số nội dung sau:

- Đối với những tỉnh không phải là đô thị thì việc thiết lập hệ thống chính quyền địa phương vẫn được tổ chức theo cơ cấu thứ bậc. Tuy nhiên, cần tiến hành phân cấp mạnh hơn, nhiều hơn cho chính quyền cấp dưới, tạo điều kiện cho chính quyền địa phương cấp dưới phát huy được tính tự quản cao hơn và có thể phát huy được nhiều hơn khả năng của các địa phương.

- Đối với những khu vực lãnh thổ có mức độ đô thị hóa cao (được gọi là đô thị) cần thiết lập cơ chế quản lý riêng. Sử dụng các tiêu chí phân loại đối với đô thị để tiến hành xác lập các đơn vị hành chính đối với những cộng đồng lãnh thổ đô thị này. Đối vối những đô thị có vai trò, chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước, thì cần thiết phải xác định cấp chính quyền cho các loại đô thị này là tương đương cấp tỉnh. Hiện nay, theo những quy định của pháp luật hiện hành thì các đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I được thiết lập tổ chức chính quyền cấp tỉnh, có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cấp tỉnh, đó là các thành phố trực thuộc Trung ương.

- Bên cạnh các đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương, còn có đô thị loại I thuộc tỉnh được quy định tại Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 7/5/2009 của Chính phủ (nhưng chưa cớ văn bản quy phạm pháp luật quy định về cơ cấu tổ chức chính quyền đô thị loại này). Cấp hành chính cho các đô thị loại này được xác định là cấp hành chính dưới cấp tỉnh; nhưng cần thiết phải có những quy chế, quy định về tổ chức và hoạt động riêng. Theo những tiêu chí, tiêu chuẩn phân loại hiện nay, thì tùy thuộc vào quy mô dân số, mức độ đô thị hóa, khả năng đáp ứng các dịch vụ công cho xã hội, mà quy định cho chính quyền những đô thị loại này được thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giống như chính quyền đô thị loại I; trừ một số chức năng có thể do chính quyền tỉnh thực hiện để có hiệu quả hơn xuất phát từ yêu cầu phải có sự phối hợp của nhiều đơn vị hoặc phải huy động nhiều nguồn lực ở phạm vi cấp tỉnh.

- Các cộng đồng đô thị còn lại, thì tùy theo tính chất, mức độ, tốc độ đô thị hóa, quy mô dân số và khả năng đáp ứng các dịch vụ công cho xã hội... cần áp dụng cơ chế quản lý tương xứng với vai trò, chức năng của những đô thị này.

- Khi thành lập các đơn vị hành chính lãnh thổ đô thị thì chính quyền đô thị cần được trao những quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ cụ thể và phải được ghi rõ trong quyết định thành lập.

- Mối quan hệ giữa chính quyền cấp tỉnh với chính quyền đô thị dưới cấp tỉnh nhất thiết phải được xác định rõ ràng. Nên nghiên cứu thiết lập các chính quyền đô thị dưới cấp tỉnh theo hướng không nằm trong hệ thống cơ cấu thứ bậc của tỉnh, nhưng vẫn có những mối liên hệ nhất định trong việc đóng góp vào ngân sách chung của toàn tỉnh. Chính quyền tỉnh có thể đưa ra những đề nghị, hướng lẫn cho các chính quyền đô thị hoặc cũng có thể trợ cấp cho chính quyền đô thị nhưng không can thiệp quá sâu vào các hoạt động của chính quyền đô thị. Do các đô thị có vai trò, chức năng thúc đẩy sự phát triển kinh tế cho một vùng, một địa phương, liên tỉnh hoặc cả nước nên cần thiết phải thiết lập cơ chế quản lý riêng nhằm tạo động lực cho các đô thị làm tốt chức năng này.

Trong xu thế cải cách hành chính hiện nay, để phát huy vai trò của các đô thị, khắc phục những yếu kém trong công tác quản lý và kiện toàn bộ máy chính quyền đô thị, Nhà nước cần ban hành một văn bản có tính chất quy phạm chung, quy định cơ chế riêng đối với tổ chức và hoạt động của các đô thị. Cụ thể cần nghiên cứu xây dựng và ban hành luật đô thị và luật về quản lý đô thị để đảm bảo thiết lập các cơ chế quản lý phù hợp với yêu cầu của các đô thị trên cả nước.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.