Rau kinh giới
Kinh giới còn có tên Khương giới, Giả tô; tên khoa học Elsholtzia ciliata (Thanb) Hyland (E. cristata Willd), thuộc họ Hoa môi Lamiaceae. Kinh giới có nguồn gốc châu Âu và Bắc Cực của châu Á. Ở Việt Nam , Kinh giới được trồng khắp nơi.
Kinh giới tính vị tân ôn, vào 2 kinh phế, can. Tính năng: phát biểu, khu phong tán hàn, lý huyết, giải độc. Kinh giới còn có tên Giả tô vì tính vị cay ôn giống Tía tô. Song kinh giới cay mà không gắt, ôn mà không táo. Cho nên nếu bị thương hàn ôn bệnh thuộc cảm mạo bất luận là phong hàn, phong nhiệt, đều dùng được.
Trong kinh giới có khoảng 1,8% tinh dầu chủ yếu là d-limon, d-menton, một ít d-limonnen (Kinh giới tươi).
Về liều dùng khô 6 - 12g, dùng tươi liều gấp 2 - 3 lần. Không dùng liều quá cao vì tinh dầu có thể gây hưng phấn thần kinh dẫn đến tình trạng phiền táo cho bệnh nhân.
Lưu ý:Hoa Kinh giới phát hãn (làm ra mồ hôi) mạnh hơn lá Kinh giới. Không có mồ hôi dùng hoa Kinh giới, có mồ hôi dùng Kinh giới sao, để vào huyết phận dùng Kinh giới sao thành than.
Chủ trị:
- Ngoại cảm phòng tà, phát sốt, nhức đầu, tắc mũi, ho, mẩn ngứa.
- Huyết nhiệt độc: sởi mới phát, mụn nhọt, đau họng, thũng độc.
- Huyết nhiệt vọng hành: chảy máu cam, ho, nôn râm ú, tiểu tiện ra máu, rong kinh, băng huyết.
- Sản hậu huyết vận cấm khẩu, tứ chi co quắp.
- Liều thường dùng 4 - 12g. Dùng tươi lượng gấp 3 - 4 lần.
- Cấm kỵ ở trường hợp biểu chướng dương hư, ra mồ hôi không phải ngoại cảm, nhức đầu do âm dương hảo vượng.
Theo dược lý Tây y, Kinh giới thúc đẩy tuyến mồ hôi phân tiết giải co cứng; đẩy mạnh tuần hoàn máu, ngoài da tiêu viêm; an thần, hạ sốt, giãn cơ trơn phế quản, chống dị ứng.
Nguồn: Thuốc và sức khoẻ, số 304 (15.3.2006)








