Quốc hội khoá I - mốc son lịch sử
Ngày 2 - 9 - 1945, Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tuyên bố với toàn thể quốc dân đồng bào và thế giới rằng nước Việt Nam đã được độc lập. Và ngay sau đó một ngày, ngày 3 - 9 - 1945 trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ càng sớm càng tốt tổ chức Tổng tuyển cử trong cả nước. Trong phiên họp đó đã nêu rõ: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên đề cại trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp càng sớm càng tốt trong cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt: giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống v.v....” (1). Sau một thời gian chuẩn bị, đến ngày 6 - 1 - 1946, Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã được tiến hành trong cả nước.
Một Ủy ban dự thảo hiến pháp được thành lập gồm 7 thành viên: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thuỵ (tức Bảo Đại), Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Nguyễn Lương Bằng, Lê Văn Hiến, Đặng Xuân Khu (tức Trường Chinh).
Vì tình hình chính trị sau cách mạng vô cùng phức tạp, thực dân Pháp lăm le trở lại xâm lược nước ta đặc biệt là bọn Việt Quốc, Việt Cách can thiệp đòi lập lại chính phủ, xoá bỏ chế độ uỷ ban nhân dân. Chúng đòi giữ 2/3 số ghế trong Quốc hội không bầu, trong đó các Bộ quan trọng như: Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục, Bộ Thanh niên chúng đều muốn nắm giữ. Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã hết sức kiên trì, nhân nhượng và bằng cách giải quyết khôn khéo nhằm tạo bầu không khí ổn định, thuận lợi cho Tổng tuyển cử được thắng lợi. Chính phủ lâm thời thừa nhận 70 ghế cho bọn Việt Quốc, Việt Cách, trong đó có ghế Phó Chủ tịch nước (Nguyễn Hải Thần) (Việt Cách). Thứ trưởng Bộ Y tế Trương Đình Tri (Việt Cách).
Trước ngày bầu cử một tuần, Hồ Chí Minh nói rõ “ý nghĩa tổng tuyển cử” cho toàn dân hiểu và tham gia hưởng ứng ngày hội lớn của dân tộc được đăng trên báo Cứu quốc, số 130 ra ngày 31 - 12 - 1945.
“Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà”.
Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ứng cử: hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử không phân chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó.
Vì lẽ đó, cho nên tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ, đoàn kết.
Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là chính phủ của toàn dân.
Vậy nên khẩu hiệu cuộc Tổng tuyển cử thứ nhất của nước Việt Nam phải là:
Kháng chiến đến cùng để hoàn toàn độc lập.
Ra sức phấn đấu để xây dựng nước nhà. Tôi mong rằng toàn thể quốc dân sẽ hăng hái tham gia cuộc Tổng tuyển cử” (2).
Trước kỳ bầu cử một ngày (ngày 5 - 1 - 1946), Hồ Chủ tịch ra lời “Kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu” đăng trên báo Cứu quốc số 134 ngày 5 - 1 - 1946 có đoạn:
“Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng quyền dân chủ của mình”.
Ngày mai, dân tộc ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: về mặt trận quân sự, thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như viên đạn mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như viên đạn.
Ngày mai, quốc dân ta tỏ cho thế giới biết rằng Việt Nam đã kiên quyết đoàn kết chặt chẽ.
Kiên quyết, chống bọn thực dân.
Kiên quyết đấu tranh quyền độc lập” (3).
Ngày 6-1-1946 thực sự là ngày hội lớn của dân tộc. Toàn dân ta đi bỏ phiếu, đi bầu những người xứng đáng thay mặt cho mình để gánh vác việc nước. Ở Nam Bộ thực dân Pháp gây hấn trở lại ngay sau ngày Quốc khánh được ba tuần (23-9-1945). Dù phải rất khó khăn, gian khổ, thậm chí đổ máu, dưới họng súng của kẻ thù, nhân dân Nam Bộ vẫn kiên quyết đi bỏ phiếu.
Cuộc tổng tuyển cử đã thắng lợi, 90% cử tri đi bỏ phiếu. Cả nước ta bầu ra 333 đại biểu, trong đó có 57% số đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau, 43 đại biểu không đảng phái (10 đại biểu nữ, 34 đại biểu dân tộc ít người, 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng). Hồ Chí Minh được nhân dân tín nhiệm số phiếu bầu cao nhất (98,4%).
Số đại biểu là nữ, là người dân tộc thiểu số chiếm chưa nhiều nhưng nó đã đánh dấu một sự chuyển biến lớn, một mốc dấu quan trọng đã chứng tỏ Quốc hội khoá đầu tiên của nước Việt Nam DCCH đã tập hợp được khối đại đoàn kết dân tộc, tôn giáo, giai cấp đảm bảo tính dân chủ rộng rãi.
Phiên họp đầu tiên của Quốc hội khoá I được tiến hành vào ngày 2-3-1946. Trong phiên họp này có gần 300 đại biểu Quốc hội khoá I đã đến dự tại Nhà hát lớn (Hà Nội) (Các đại biểu Nam Bộ bận kháng chiến chưa ra kịp) do Ngô Tử Hạ - đại biểu cao tuổi nhất làm chủ tịch kỳ họp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc diễn văn khai mạc. Người vạch rõ ý nghĩa cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Thay mặt chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh trình bày những việc đã làm qua sáu tháng như: ra sức kháng chiến, giảm bớt sự đói bằng cách thực hành tăng gia sản xuất, tổ chức thành công Tổng tuyển cử, đồng thời nêu lên những khó khăn: “Quốc hội và chính phủ còn có những gánh nặng nề, phải bước qua nhiều khó khăn, nhưng tôi chắc rằng quốc dân sẽ nhất trí, dựa vào sức đoàn kết mà làm việc, và như thế thì dù khó khăn đến đâu, kháng chiến sẽ thắng lợi và kiến quốc sẽ thành công ...”.
Quốc hội đã quyết định thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến, bầu Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch và các thành viên của Chính phủ gồm: Nguyễn Trường Tam (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao), Huỳnh Thúc Kháng (Bộ trưởng Bộ Nội vụ), Chu Bá Phượng (Bộ trưởng Bộ Kinh tế), Lê Văn Hiến (Bộ trưởng Bộ Tài chính), Phan Anh (Bộ trưởng Bộ Quốc phòng), Trương Đình Tri (Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm y tế, cứu tế và lao động), Đặng Thai Mai (Bộ trưởng Bộ Giáo dục), Vũ Đình Hoè (Bộ trưởng Bộ Tư pháp), Trần Đăng Khoa (Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính), Bồ Xuân Luật (Bộ trưởng Bộ Canh nông).
Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam DCCH thành công là một sự kiện lịch sử lớn lao, là thắng lợi của khối đại đoàn kết dân tộc, là quá trính đấu tranh khôn khéo nhân nhượng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Minh.
Soạn thảo Hiến pháp trong kỳ họp thứ hai, diễn ra ngày 28-10 đến 9-11-1946 là một kỳ họp có nhiều sự kiện mới.
Quốc hội đã nghe báo cáo công tác của Chính phủ, thông qua hiến pháp đầu tiên và thành lập Chính phủ mới, phải bàn chống Pháp nhưng đã bày tỏ sự thống nhất, tin tưởng tuyệt đối của nhân dân cả nước đối với Chính phủ, Quốc hội và đã suy tôn Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Người công dân thứ nhất đã sáng suốt đưa nước ta ra khỏi vòng nô lệ”.
![]() |
Lễ ra mắt thành lập chính phủ 2 - 3 - 1946. |
Các phiên họp Quốc hội khoá I đều thể hiện ý chí đoàn kết, vì tổ quốc Việt Nam thân yêu và thể hiện ý chí đoàn kết và thể hiện tinh thần dân chủ cao. Trong diễn văn khai mạc kỳ họp thứ hai của Quốc hội do Tôn Đức Thắng đọc ngày 9 - 11 - 1946 có đoạn: “Nếu có ai có thành kiến của giai cấp, của đảng phái, của tôn giáo thì đến trong phòng này... (phòng họp của Quốc hội) cũng đã để lòng nghe theo một tiếng gọi cao cả và thiêng liêng hơn cả bấy nhiêu tiếng gọi lúc thường: tiếng gọi cao của Tổ quốc. Cái không khí ấy đã hoàn toàn phản chiếu được tình trạng chung của đất nước...tình trạng thống nhất ý chí và hành động” (5).
Sau khi Chính phủ nước Việt Nam DCCH được thành lập, về tổ chức chính quyền các cấp địa phương cũng được sắp xếp lại giúp cho việc quản lý được thuận lợi. Quốc hội khoá I thành công đã thể hiện sự cố gắng của Chính phủ mới nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có thể nói đây là nền tảng đầu cho các bản Hiến pháp sau đó. Quốc hội cùng với Chính phủ sẽ đưa ra những đường lối, quyết sách đúng đắn, kịp thời, quan trọng trong thời gian sau đó khi mà nước ta phải bắt tay vào công cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm (1946 - 1954), trong công cuộc cải cách ruộng đất hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ và đi lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà, chống Mỹ cứu nước ở miền Nam.
Có thể nói rằng, Quốc hội khoá I có nhiều sự kiện đặc biệt nhất. Do hoàn cảnh nên ban đầu thành phần Quốc hội có nhường 70 ghế không thông qua bầu của Việt Quốc, Việt Cách, nhưng sau hầu hết số đại biểu này trốn tránh trách nhiệm nên đã bỏ chạy. Sau bọn Việt Quốc, Việt Cách bỏ chạy, chính phủ ta lại tổ chức lại cơ cấu của Quốc hội cho hoàn chỉnh. Trong 12 kỳ họp của Quốc hội khoá I, cũng như trong lịch sử của Quốc hội Việt Nam, kỳ họp thứ nhất diễn ra trong thời gian ngắn nhất chỉ có một ngày (thời gian chỉ vẻn vẹn 4 giờ đồng hồ). Điều đặc biệt nữa là do điều kiện kháng chiến chống thực dân Pháp nên Quốc hội không thể triệu tập các vị đại biểu Quốc hội được nên đã tiến hành mỗi năm họp 2 kỳ. Các vấn đề của Quốc hội đều uỷ quyền cho Ban Thường vụ Quốc hội giải quyết các vấn đề của đất nước. Phiên họp thứ hai và phiên họp thứ ba cách nhau 7 năm (từ tháng 11 - 1946 đến tháng 12 - 1953). Nhưng Quốc hội khoá I vẫn tổ chức được 12 kỳ họp (như mọi khoá khác) và phải kéo dài 14 năm (từ 1946 - 1960).
Quốc hội khoá I thực sự mang tính trí tuệ cao, là dấu ấn lịch sử không thể phai mờ. Nội dung Hiến pháp do Quốc hội khoá I khởi thảo hết sức tiến bộ, hợp lòng dân.
Lời nói đầu của Hiến pháp nước Việt Nam DCCH thông qua ngày 9 - 11 - 1946 có đoạn:
Được quốc dân giao cho trách nhiệm thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam DCCH, Quốc hội nhận thấy rằng Hiến pháp Việt Nam phải lấy những thành tích vẻ vang của cách mạng và phải xây dựng trên những nguyên tắc sau đây:
Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo.
Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.
Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.
Với tinh thần đoàn kết, phấn đấu sẵn có của toàn dân, dưới một chính thể dân chủ rộng rãi, nước Việt Nam độc lập và thống nhất tiến bước trên đuờng vinh quang, hạnh phúc, cùng nhịp vào trào lưu tiến bộ của thế giới và ý nguyện hoà bình của nhân loại” (6).
______________
1. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H.2002, tr.8.
2. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H.2002, tr.133.
3. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H.2002, tr.145.
4. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H.2002, tr.440.
5. Tôn Đức Thắng: Diễn văn bế mạc kỳ họp thứ hai của Quốc hội ngày 9 - 11 - 1946, Hồ sơ số 1, Văn phòng Quốc hội (dẫn lại thoe Lịch sử Việt Nam tập I, Nxb Giáo dục, 1999, tr.22).
6. Lịch sử Quốc hội Việt Nam (1946 - 1960), Nxb CTQG, H.1994, tr.271, tr.272.









