Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 22/12/2010 18:25 (GMT+7)

Quản lý tổng hợp tài nguyên nước

Thêm vào đó, việc khai thác sử dụng nước lãng phí, thiếu sự kiểm soát phòng chống ô nhiễm đã làm cho tài nguyên nước suy thoái thêm về chất. Vì vậy, việc nắm vững những quy luật đặc thù và tiềm năng về tài nguyên nước cũng như những phương pháp quản lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên nước của quốc gia trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, nhất là cải thiện điều kiện cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường.

Tình hình khai thác tài nguyên nước

Theo đánh giá sơ bộ, nước được sử dụng khoảng 80 tỷ m3 trong một năm. Trong đó, nông nghiệp vẫn là ngành sử dụng nhiều nước nhất chiếm 82%, thủy sản khoảng 11%, công nghiệp khoảng 3,7% và nước dùng cho sinh hoạt chỉ chiếm khoản 3% tổng lượng nước dùng. Có 13 lưu vực sông lượng nước sử dụng cho tưới chiếm trên 80%, chỉ có sông Đồng Nai và nhóm sông Đông Nam bộ việc sử dụng nước cho tưới từ 57 – 80% tổng lượng nước dùng. Cơ cấu sử dụng nước đang có xu hướng tăng dần cho công nghiệp, thủy sản và sinh hoạt.

Mặc dù tổng lượng nước sử dụng hiện nay mới gần bằng 10% tổng lượng nước trung bình năm của hệ thống sông ngòi ở nước ta, chưa đạt đến ngưỡng giới hạn (20% lượng nước trung bình năm), tuy nhiên, có 2 sông đã khai thác trên 25%, là sông Mã và nhóm sông Đông Nam bộ. Nếu xem xét tỷ lệ lượng nước sử dụng trong mùa cạn, nhiều khu vực có mức độ khai thác đã vượt quá ngưỡng (20%), đang ở trong tình trạng căng thẳng về nước và một số khu vực đã vượt qua ngưỡng rất căng thẳng về nước (40%). Trên thực tế, hầu hết các hồ chứa chưa thực hiện chế độ điều tiết nước theo nhu cầu sử dụng nước ở hạ du trong mùa khô, chủ yếu vẫn xả nước theo yêu cầu sử dụng nước ở hạ du. Về lượng nước điều tiết: Tổng các dung tích hữu ích của các hồ chứa vừa và lớn ở Việt Nam khoảng 37 tỷ m3, trong đó 42% thuộc sông Hồng, 18% sông Đồng Nai, Sê San và Cả có khoảng 10%. Các hồ chứa thủy điện chiếm gần 81% dung tích hồ Việt Nam (khoảng 30% tỷ m3). Lượng nước của các hồ chứa thủy điện có thể điều tiết, tăng cường nước cho hạ lưu trong mùa khô, nhưng thực chất các hồ thủy điện lại vận hành theo chế độ phụ tải điện, chỉ trường hợp đặc biệt (như Hòa Bình) mới vận hành theo nhu cầu nước hạ du. Các hồ thủy lợi xả nước phục vụ nhu cầu nước nông nghiệp theo hệ thống và chỉ có một lượng nhỏ hồi quy chảy về sông.

Tổng lượng nước trong mùa khô khoảng 195 tỷ m3, nếu tính cả lượng nước điều tiết các hồ và lượng nước được chuyển giữa các lưu vực thì tổng lượng nước mùa khô sẽ có khoảng 231 tỷ m3. Việc điều tiết để đáp ứng nhu cầu dùng nước các ngành trong mùa khô là rất đáng kể, lượng nước có thể sử dụng trong mùa khô tăng thêm trên 18%.

Nếu chưa xét tới lượng nước điều tiết từ các hồ, Việt Nam hiện có 7 khu vực đã sử dụng quá mức (quá 40%) lượng nước có trong mùa khô, gồm: sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, sông Hương, sông Kôn, sông Ba, sông Đồng Nai, nhóm sông Đông Nam bộ. Nhưng nhờ có điều tiết các hồ chứa và chuyển nước lưu vực, việc sử dụng nước được cải thiện đáng kể, chỉ còn 4 khu vực vượt quá ngưỡng giới hạn nêu trên, gồm: sông Mã, sông Hương, sông Ba và nhóm sông Đông Nam bộ.

Chỉ số khai thác nước mùa khô trung bình toàn quốc khoảng 32%. Như vậy, xét về mặt tổng thể, việc sử dụng nước trong mùa khô ở nước ta đã vượt qua ngưỡng 20%. Và đã ở trong tình trạng căng thẳng về nước. Đã có 11 trong tổng số 16 lưu vực sông vượt qua ngưỡng này chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ ở nước ta, trong đó 4 sông có mức độ khai thác trong mùa khô đã vượt qua ngưỡng 40%, chuyển sang tình trạng rất căng thẳng về nước trong mùa khô: cao nhất là ở nhóm sông Đông Nam bộ (85%), sông Mã (82%), sông Ba (53%) và sông Hương (48%). Chỉ có 5 sông, gồm: Bằng Giang – Kỳ Cùng, Gianh, Thạch Hãn, Sê San và Srepok chưa vượt qua ngưỡng trên. Sông Hồng – Thái Bình (38%), đồng bằng sông Cửu Long (32%) và sông Kôn – Hà Thanh (35%) cũng đã gần chuyển sang tình trạng rất căng thẳng về nước trong mùa khô. Điều này cho thấy việc xác định rõ giới hạn khai thác nước của từng lưu vực sông và công bố giới hạn cho phép khai thác của từng dòng sông, từng khu vực là rất cần thiết.

Hiện nay, trừ lượng tiềm năng, trữ lượng nước dưới đất có thể khai thác, mức độ khai thác cũng chưa được đánh giá, xác định cụ thể ở từng lưu vực sông, từng vùng. Tuy nhiên, theo đánh giá sơ bộ, có khoảng 55 – 60% dân số Việt Nam dùng nước dưới đất chi sinh hoạt; 65% dân số nông thôn sử dụng nguồn nước dưới đất khai thác từ các giếng khoan, giếng đào. Ước tính, mức độ khai thác nước dưới đất ở các khu vực đồng bằng Bắc bộ, đồng bằng sông Cửu Long, khu vực Đông Nam bộ và Tây Nguyên vào khoảng từ 20 – 30% trữ lượng tiềm năng của từng vùng. Trong đó, ở các đô thị, nhất là Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bạc Liêu, Cà Mau... chỉ số khai hác còn cao hơn nhiều so với mức nêu trên. Trong các đô thị này, và một số nơi khai thác tập trung ở các vùng đồng bằng, Tây Nguyên, nước dưới đất đã bị khai thác quá mức, gây ra tình trạng mực nước dưới đất bị suy giảm liên tục (từ 0,2 – 0,6 m/năm) và chưa có dấu hiệu hồi phục, chất lượng nước cũng bị suy giảm, nhất là ở mức độ ô nhiễm, các hợp chất hữu cơ, hiện tượng sụt, lún đất cũng đã xuất hiện ở nhiều nơi và đang có chiều hướng gia tăng trong thời gian gần đây.

Quản lý tổng hợp tài nguyên nước

Trong nhiều năm qua, hệ thống tổ chức và thể chế quản lý tài nguyên nước ngày càng được hoàn thiện, góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Luật Tài nguyên nước được ban hành năm 1998 là một thành tựu quan trọng về mặt thể chế trong lĩnh vực tài nguyên nước. Nghị định số 149/2004/NĐ-CP quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước; Nghị định số 34/2005/ND-CP quy định về sử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước.... đã được Chính phủ ban hành. Do đó mà trong triển khai, nhận thức về công tác quản lý tài nguyên nước bắt đầu có sự chuyển biến căn bản, đặc biệt là trong việc xây dựng chính sách, pháp luật. Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đây là một văn kiện hết sức quan trọng, đề cập một cách toàn diện về quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về bảo vệ, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước, phòng, chống tác hại do nước gây ra. Quản lý tài nguyên nước theo phương thức tổng hợp và thống nhất trên cơ sở lưu vực sông sẽ đóng góp vào sự thành công của việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế, xã hội.

Tuy đã tiến một bước quan trọng về chất, nhưng công tác quản lý nhà nước về tài nguyên trong thời gian qua cũng đang phải tập trung giải quyết nhiều thách thức quan trọng. Đó là, vị trí và vai trò của nước đối với sự phát triển bền vững của đất nước, đối với sức khỏe và cuộc sống chưa được nhận thức đầy đủ; giá trị kinh tế của nước chưa được chú trọng, chưa coi nước là tài nguyên, hàng hóa. Thiếu nước trong mùa khô diễn ra phổ biến với quy mô và mức độ ngày càng tăng kết cấu hạ tầng khai thác, sử dụng nước xuống cấp và tình trạng sử dụng lãng phí, thiếu hiệu quả chưa được cải thiện. Tình trạng suy thoái, cạn kiệt nguồn nước dưới đất đã xảy ra một số nơi, không bảo đảm khai thác, sử dụng nước tổng hợp, đa mục tiêu. Hiệu quả phòng, chống tác hại do nước gây ra còn kém, nguồn nước tiếp tục bị suy thoái, ô nhiễm. Giải pháp trọng tâm là phải bảo vệ và bảo đảm tính bền vững trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Thực hiện việc lập danh bạ các nguồn nước mặt, nước dưới đất và phân loại chất lượng nước; xác định và công bố mục tiêu bảo vệ chất lượng nước trên các sông và các tầng chứa nước.

Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch và bảo vệ nguồn nước mặt, nước dưới đất; thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống ô nhiễm nguồn nước mặt và nguồn nước dưới đất lấy phòng là chính. Kiểm soát chặt chẽ các hoạt động khai thác tài nguyên nước, trọng tâm là ở những khu vực có chỉ số nước cao, quá mức và thực hiện viện giám sát các hoạt động xả nước thải vào nguồn nước, nhất là những sông đã bị ô nhiễm. Lập quy hoạch khai thác, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước các lưu vực sông và vùng lãnh thổ. Thực hiện điều hòa và phân bổ nguồn nước trên các lưu vực sông bảo đảm phân bổ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước hợp lý giữa các ngành, các địa phương.

Xác định, công bố mục đích khai thác, sử dụng nước ở các sông, tầng chứa nước và xây dựng các cơ chế, chính sách để thực hiện sự phối hợp trong việc xây dựng và vận hành các công trình khai thác tài nguyên nước. Các hồ chứa thủy điện, thủy lợi, khai thác, sử dụng tổng hợp, đa mục tiêu vừa thực hiện chính sách ưu tiên nguồn nước cho sinh hoạt vừa bảo đảm yêu cầu sử dụng nước để phát điện và hài hòa nhu cầu sử dụng nước cho các mục đích khác ở dưới hạ du. Xây dựng cơ chế, chính sách để quản lý nhu cầu sử dụng nước, khuyến khích sử dụng nước tiết kiệm và tái sử dụng nước.

Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, huy động và bảo đảm sự tham gia chủ động, tích cực của cộng đồng trong việc giám sát, bảo vệ nguồn nước. Đồng thời với việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật, và sử dụng có hiệu quả đầu tư, kinh tế hóa tài nguyên nước và xóa bỏ bao cấp trong các dịch vụ cung ứng nước. Tăng cường năng lực quản lý và phát triển khoa học, công nghệ mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn nước quốc gia...

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.