Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Thêm vào đó, việc khai thác sử dụng nước lãng phí, thiếu sự kiểm soát phòng chống ô nhiễm đã làm cho tài nguyên nước suy thoái thêm về chất. Vì vậy, việc nắm vững những quy luật đặc thù và tiềm năng về tài nguyên nước cũng như những phương pháp quản lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên nước của quốc gia trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, nhất là cải thiện điều kiện cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường.
Tình hình khai thác tài nguyên nước
Theo đánh giá sơ bộ, nước được sử dụng khoảng 80 tỷ m3 trong một năm. Trong đó, nông nghiệp vẫn là ngành sử dụng nhiều nước nhất chiếm 82%, thủy sản khoảng 11%, công nghiệp khoảng 3,7% và nước dùng cho sinh hoạt chỉ chiếm khoản 3% tổng lượng nước dùng. Có 13 lưu vực sông lượng nước sử dụng cho tưới chiếm trên 80%, chỉ có sông Đồng Nai và nhóm sông Đông Nam bộ việc sử dụng nước cho tưới từ 57 – 80% tổng lượng nước dùng. Cơ cấu sử dụng nước đang có xu hướng tăng dần cho công nghiệp, thủy sản và sinh hoạt.
Mặc dù tổng lượng nước sử dụng hiện nay mới gần bằng 10% tổng lượng nước trung bình năm của hệ thống sông ngòi ở nước ta, chưa đạt đến ngưỡng giới hạn (20% lượng nước trung bình năm), tuy nhiên, có 2 sông đã khai thác trên 25%, là sông Mã và nhóm sông Đông Nam bộ. Nếu xem xét tỷ lệ lượng nước sử dụng trong mùa cạn, nhiều khu vực có mức độ khai thác đã vượt quá ngưỡng (20%), đang ở trong tình trạng căng thẳng về nước và một số khu vực đã vượt qua ngưỡng rất căng thẳng về nước (40%). Trên thực tế, hầu hết các hồ chứa chưa thực hiện chế độ điều tiết nước theo nhu cầu sử dụng nước ở hạ du trong mùa khô, chủ yếu vẫn xả nước theo yêu cầu sử dụng nước ở hạ du. Về lượng nước điều tiết: Tổng các dung tích hữu ích của các hồ chứa vừa và lớn ở Việt Nam khoảng 37 tỷ m3, trong đó 42% thuộc sông Hồng, 18% sông Đồng Nai, Sê San và Cả có khoảng 10%. Các hồ chứa thủy điện chiếm gần 81% dung tích hồ Việt Nam (khoảng 30% tỷ m3). Lượng nước của các hồ chứa thủy điện có thể điều tiết, tăng cường nước cho hạ lưu trong mùa khô, nhưng thực chất các hồ thủy điện lại vận hành theo chế độ phụ tải điện, chỉ trường hợp đặc biệt (như Hòa Bình) mới vận hành theo nhu cầu nước hạ du. Các hồ thủy lợi xả nước phục vụ nhu cầu nước nông nghiệp theo hệ thống và chỉ có một lượng nhỏ hồi quy chảy về sông.
Tổng lượng nước trong mùa khô khoảng 195 tỷ m3, nếu tính cả lượng nước điều tiết các hồ và lượng nước được chuyển giữa các lưu vực thì tổng lượng nước mùa khô sẽ có khoảng 231 tỷ m3. Việc điều tiết để đáp ứng nhu cầu dùng nước các ngành trong mùa khô là rất đáng kể, lượng nước có thể sử dụng trong mùa khô tăng thêm trên 18%.
Nếu chưa xét tới lượng nước điều tiết từ các hồ, Việt Nam hiện có 7 khu vực đã sử dụng quá mức (quá 40%) lượng nước có trong mùa khô, gồm: sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, sông Hương, sông Kôn, sông Ba, sông Đồng Nai, nhóm sông Đông Nam bộ. Nhưng nhờ có điều tiết các hồ chứa và chuyển nước lưu vực, việc sử dụng nước được cải thiện đáng kể, chỉ còn 4 khu vực vượt quá ngưỡng giới hạn nêu trên, gồm: sông Mã, sông Hương, sông Ba và nhóm sông Đông Nam bộ.
Chỉ số khai thác nước mùa khô trung bình toàn quốc khoảng 32%. Như vậy, xét về mặt tổng thể, việc sử dụng nước trong mùa khô ở nước ta đã vượt qua ngưỡng 20%. Và đã ở trong tình trạng căng thẳng về nước. Đã có 11 trong tổng số 16 lưu vực sông vượt qua ngưỡng này chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ ở nước ta, trong đó 4 sông có mức độ khai thác trong mùa khô đã vượt qua ngưỡng 40%, chuyển sang tình trạng rất căng thẳng về nước trong mùa khô: cao nhất là ở nhóm sông Đông Nam bộ (85%), sông Mã (82%), sông Ba (53%) và sông Hương (48%). Chỉ có 5 sông, gồm: Bằng Giang – Kỳ Cùng, Gianh, Thạch Hãn, Sê San và Srepok chưa vượt qua ngưỡng trên. Sông Hồng – Thái Bình (38%), đồng bằng sông Cửu Long (32%) và sông Kôn – Hà Thanh (35%) cũng đã gần chuyển sang tình trạng rất căng thẳng về nước trong mùa khô. Điều này cho thấy việc xác định rõ giới hạn khai thác nước của từng lưu vực sông và công bố giới hạn cho phép khai thác của từng dòng sông, từng khu vực là rất cần thiết.
Hiện nay, trừ lượng tiềm năng, trữ lượng nước dưới đất có thể khai thác, mức độ khai thác cũng chưa được đánh giá, xác định cụ thể ở từng lưu vực sông, từng vùng. Tuy nhiên, theo đánh giá sơ bộ, có khoảng 55 – 60% dân số Việt Nam dùng nước dưới đất chi sinh hoạt; 65% dân số nông thôn sử dụng nguồn nước dưới đất khai thác từ các giếng khoan, giếng đào. Ước tính, mức độ khai thác nước dưới đất ở các khu vực đồng bằng Bắc bộ, đồng bằng sông Cửu Long, khu vực Đông Nam bộ và Tây Nguyên vào khoảng từ 20 – 30% trữ lượng tiềm năng của từng vùng. Trong đó, ở các đô thị, nhất là Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bạc Liêu, Cà Mau... chỉ số khai hác còn cao hơn nhiều so với mức nêu trên. Trong các đô thị này, và một số nơi khai thác tập trung ở các vùng đồng bằng, Tây Nguyên, nước dưới đất đã bị khai thác quá mức, gây ra tình trạng mực nước dưới đất bị suy giảm liên tục (từ 0,2 – 0,6 m/năm) và chưa có dấu hiệu hồi phục, chất lượng nước cũng bị suy giảm, nhất là ở mức độ ô nhiễm, các hợp chất hữu cơ, hiện tượng sụt, lún đất cũng đã xuất hiện ở nhiều nơi và đang có chiều hướng gia tăng trong thời gian gần đây.
Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Trong nhiều năm qua, hệ thống tổ chức và thể chế quản lý tài nguyên nước ngày càng được hoàn thiện, góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Luật Tài nguyên nước được ban hành năm 1998 là một thành tựu quan trọng về mặt thể chế trong lĩnh vực tài nguyên nước. Nghị định số 149/2004/NĐ-CP quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước; Nghị định số 34/2005/ND-CP quy định về sử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước.... đã được Chính phủ ban hành. Do đó mà trong triển khai, nhận thức về công tác quản lý tài nguyên nước bắt đầu có sự chuyển biến căn bản, đặc biệt là trong việc xây dựng chính sách, pháp luật. Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đây là một văn kiện hết sức quan trọng, đề cập một cách toàn diện về quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về bảo vệ, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước, phòng, chống tác hại do nước gây ra. Quản lý tài nguyên nước theo phương thức tổng hợp và thống nhất trên cơ sở lưu vực sông sẽ đóng góp vào sự thành công của việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế, xã hội.
Tuy đã tiến một bước quan trọng về chất, nhưng công tác quản lý nhà nước về tài nguyên trong thời gian qua cũng đang phải tập trung giải quyết nhiều thách thức quan trọng. Đó là, vị trí và vai trò của nước đối với sự phát triển bền vững của đất nước, đối với sức khỏe và cuộc sống chưa được nhận thức đầy đủ; giá trị kinh tế của nước chưa được chú trọng, chưa coi nước là tài nguyên, hàng hóa. Thiếu nước trong mùa khô diễn ra phổ biến với quy mô và mức độ ngày càng tăng kết cấu hạ tầng khai thác, sử dụng nước xuống cấp và tình trạng sử dụng lãng phí, thiếu hiệu quả chưa được cải thiện. Tình trạng suy thoái, cạn kiệt nguồn nước dưới đất đã xảy ra một số nơi, không bảo đảm khai thác, sử dụng nước tổng hợp, đa mục tiêu. Hiệu quả phòng, chống tác hại do nước gây ra còn kém, nguồn nước tiếp tục bị suy thoái, ô nhiễm. Giải pháp trọng tâm là phải bảo vệ và bảo đảm tính bền vững trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Thực hiện việc lập danh bạ các nguồn nước mặt, nước dưới đất và phân loại chất lượng nước; xác định và công bố mục tiêu bảo vệ chất lượng nước trên các sông và các tầng chứa nước.
Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch và bảo vệ nguồn nước mặt, nước dưới đất; thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống ô nhiễm nguồn nước mặt và nguồn nước dưới đất lấy phòng là chính. Kiểm soát chặt chẽ các hoạt động khai thác tài nguyên nước, trọng tâm là ở những khu vực có chỉ số nước cao, quá mức và thực hiện viện giám sát các hoạt động xả nước thải vào nguồn nước, nhất là những sông đã bị ô nhiễm. Lập quy hoạch khai thác, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước các lưu vực sông và vùng lãnh thổ. Thực hiện điều hòa và phân bổ nguồn nước trên các lưu vực sông bảo đảm phân bổ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước hợp lý giữa các ngành, các địa phương.
Xác định, công bố mục đích khai thác, sử dụng nước ở các sông, tầng chứa nước và xây dựng các cơ chế, chính sách để thực hiện sự phối hợp trong việc xây dựng và vận hành các công trình khai thác tài nguyên nước. Các hồ chứa thủy điện, thủy lợi, khai thác, sử dụng tổng hợp, đa mục tiêu vừa thực hiện chính sách ưu tiên nguồn nước cho sinh hoạt vừa bảo đảm yêu cầu sử dụng nước để phát điện và hài hòa nhu cầu sử dụng nước cho các mục đích khác ở dưới hạ du. Xây dựng cơ chế, chính sách để quản lý nhu cầu sử dụng nước, khuyến khích sử dụng nước tiết kiệm và tái sử dụng nước.
Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, huy động và bảo đảm sự tham gia chủ động, tích cực của cộng đồng trong việc giám sát, bảo vệ nguồn nước. Đồng thời với việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật, và sử dụng có hiệu quả đầu tư, kinh tế hóa tài nguyên nước và xóa bỏ bao cấp trong các dịch vụ cung ứng nước. Tăng cường năng lực quản lý và phát triển khoa học, công nghệ mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn nước quốc gia...








