Quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng
I. Đánh giá về tài nguyên rừng giai đoạn 2001 - 2005
1. Rừng tự nhiên
1.1.Diện tích rừng tự nhiên vẫn có chiều hướng suy giảm ở một số vùng trong thời gian vừa qua điều đó thể hiện việc phát triển chưa bền vững. Diện tích rừng tự nhiên hiện tại chủ yếu là rừng nghèo và rừng phục hồi (chiếm 54,8%).
1.2.Chất lượng rừng tiếp tục bị suy giảm thể hiện qua các nhân tố sau:
- Trữ lượng bình quân của rừng tự nhiên nói chung giảm từ 78 m3/ha xuống còn 74 m3/ha (giảm bình quân 4 m3/ha sau 5 năm). Nguyên nhân chủ yếu là do diện tích rừng phục hồi hiện nay tăng thêm 34% so với thời điểm năm 2000 đã kéo trữ lượng bình quân xuống thấp.
- Trữ lượng phân bố theo cấp đường kính giảm, đặc biệt đối với một số trạng thái rừng giàu và trung bình. Tuy trạng thái rừng vẫn không thay đổi nhưng những cây có đường kính lớn, có giá trị kinh tế giảm do khai thác trái phép, không quản lý được, một số loài cây quý hiếm như Pơ mu, Lim xanh, Gụ mật, Mun… có nguy cơ tuyệt chủng.
- Trữ lượng rừng phân theo nhóm gỗ cũng diễn biến theo chiều hướng xấu. Những nhóm gỗ I đến nhóm IV chiếm tỷ lệ ngày càng ít, vì những loài cây thuộc nhóm này rất được ưa chuộng trên thị trường trong nước và xuất khẩu.
1.3.Diện tích rừng nghèo và rừng phục hồi hiện chiếm tỷ lệ rất lớn trong cấu thành rừng tự nhiên. Đối tượng này cần được phân loại để có biện pháp tác động nhằm nâng cao chất lượng rừng hoặc trong những điều kiện cụ thể như phân bố trên đất tốt, có thị trường, điều kiện tiếp cận thuận lợi… thì nên chuyển hẳn thành rừng kinh tế có chất lượng và khả năng phòng hộ sinh thái cao hơn.
2. Rừng trồng
Trong 5 năm qua diện tích rừng trồng tăng thêm 42,4% so, trong đó chủ yếu là rừng phòng hộ và sản xuất. Nếu so với yêu cầu của Chương trình trồng mới 5 triệu ha thì đến năm 2010 diện tích rừng cần trồng thêm cho các đối tượng là: Rừng phòng hộ, đặc dụng cần trồng thêm 850.000 ha, rừng sản xuất là 1.500.000 ha. Với tốc độ trồng rừng như hiện nay thì kế hoạch sẽ không hoàn thành và chủ yếu ở đối tượng rừng sản xuất. Tốc độ trồng rừng sản xuất quá chậm so với yêu cầu đặt ra do những nguyên nhân sau:
- Việc trồng rừng nguyên liệu hiện nay rất khó vay vốn kể cả doanh nghiệp nhà nước và hộ gia đình.
- Cây lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài, đối tượng trồng rừng là đất xấu, cao, dốc, cơ sở hạ tầng như đường giao thông không có. Chính những khó khăn trên đã không hấp dẫn cá nhân, tổ chức bỏ vốn để trồng rừng sản xuất.
- Hiện nay một bộ phận đất đai đã giao cho dân quản lý sử dụng. Người dân không có vốn đầu tư, trong khi đó doanh nghiệp có vốn nhưng không có đất trồng.
3. Đất trống đồi núi trọc (ĐTĐNT)
Tổng diện tích ĐTĐNTdo lâm nghiệp quản lý giảm 724.000 ha do trồng rừng, tái sinh phục hồi rừng và khai khẩn vì mục đích nông nghiệp, đất thổ cư… Theo quy luật chung thì ĐTĐNT sẽ giảm ở tất cả các nhóm đối tượng nhưng thực tế lại tăng lên ở đối tượng phòng hộ, giảm đi ở đối tượng sản xuất. Nguyên nhân là khi quy hoạch, các tỉnh có xu hướng tăng diện tích phòng hộ (bao gồm có rừng và ĐTĐNT) để thu hút thêm nguồn ngân sách cho trồng rừng phòng hộ. Chính sự điều chỉnh mang tính chủ quan, thiếu cơ sở khoa học đã đẩy diện tích rừng phòng hộ lên quá lớn. Nếu tính cả diện tích rừng đặc dụng thì tổng diện tích vì mục tiêu phòng hộ và môi trường là 63,2%. Như vậy lâm nghiệp Việt Nam là hoạt động mang tính môi trường chứ không phải là ngành kinh tế kỹ thuật có ý nghĩa môi trường.
4. Động vật rừng
Tình trạng quần thể của các loài động vật quý hiếm Việt Nam có xu thế giảm khá nhanh. Hiện tại, địa bàn cư trú của chúng đang dần bị thu hẹp. Chúng thường xuyên bị đe doạ, phần lớn chúng chỉ còn cách trú ngụ trong các khu rừng đặc dụng. Tuy nhiên, việc khảo sát chu đáo hơn cần phải được đặt ra trong giai đoạn tới để có giải pháp về tăng hay giảm diện tích các khu rừng đặc dụng cũng như giải pháp cho các vấn đề về đầu tư nhằm mục tiêu bảo tồn và cho các thể chế chính sách khác.
5. Lâm sản ngoài gỗ
Những loại lâm sản ngoài gỗ chủ yếu đáng chú ý là: Nhựa thông, vỏ Quế, hoa Hồi, Song mây, Tre nứa… Tuy nhiên việc trồng và phát triển cũng như việc quản lý các lâm sản ngoài gỗ hiện nay của nước ta chưa thật sự được chú ý. Sự hiểu biết về đặc điểm, tính chất cũng như giá trị của các loại lâm sản ngoài gỗ chưa đầy đủ và cần có chính sách khuyến khích phát triển nguồn tài nguyên này.
1. Dự báo về môi trường
Phấn đấu đến năm 2010 phải nâng độ che phủ của rừng toàn quốc lên khoảng 43 - 44%, nhằm đảm bảo an toàn môi trường sinh thái không những cho quốc gia vì sự phát triển bền vững mà còn góp phần vào chiến lược phát triển rừng toàn cầu.
2. Dự báo về nhu cầu và thị trường lâm sản
Căn cứ vào tốc độ tăng dân số, nhịp độ tăng trưởng kinh tế, thị trường lâm sản trong và ngoài nước và xu hướng thay đổi thị hiếu tiêu dùng, dự báo nhu cầu sử dụng lâm sản hàng năm trong giai đoạn 2001 - 2005 và 2006 - 2020 như sau:
Nhu cầu | Đơn vị | 2005 | 2010 | 2015 | 2020 |
1. Gỗ trụ mỏ | 10 3m 3 | 90 | 120 | 160 | 200 |
2. Gỗ lớn trong CN và dân dụng | 10 3m 3 | 5.373 | 8.030 | 10.266 | 11.993 |
3. Gỗ nhỏ SX ván nhân tạo, dăm gỗ xuất khẩu | 10 3m 3 | 2.032 | 2.464 | 2.922 | 1.682 |
4. Nhu cầu gỗ nhỏ SX bột giấy | 10 3m 3 | 2.568 | 3.388 | 5.271 | 8.283 |
5. Gỗ củi | 10 6m 3 | 25,7 | 26,0 | 26,0 |
Đối với lâm sản ngoài gỗ, dự báo nhu cầu bình quân năm trong giai đoạn 2001 - 2010: song mây, tre nứa khoảng 300 - 350 nghìn tấn, nhựa thông khoảng 40 nghìn tấn, hoa hồi khoảng 30 nghìn tấn, cánh kiến đỏ khoảng 5 nghìn tấn, dầu rái, chai cục khoảng 1 nghìn tấn và dược liệu khoảng 1,5 nghìn tấn.
Trong 10 năm tới, nguồn cung cấp gỗ trong nước chủ yếu dựa vào khai thác cây trồng phân tán, khai thác rừng trồng hiện có và tận thu từ rừng tự nhiên. Tuy nhiên, với khả năng hiện tại, rừng nước ta chưa đáp ứng đủ nhu cầu, đòi hỏi vẫn phải nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ chế biến cũng như bột giấy để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.
Dự báo nhu cầu nhập khẩu bình quân năm cho giai đoạn 2001 - 2005 có thể lên tới 1.000.000 m 3gỗ và 20.000 tấn song mây và giai đoạn 2006 - 2010 khoảng 500.000 m 3gỗ và 30.000 tấn song mây.
Về xuất khẩu, ngành chế biến gỗ có sức cạnh tranh cao hơn so với một số nước trong khu vực bởi giá lao động rẻ và kỹ năng tay nghề khéo léo. Thị trường lâm sản trong nước rất có tiềm năng. Tuy nhiên, có những loại hàng hóa lâm sản cần có những bước đi thích hợp, đặc biệt đối với mặt hàng ván nhân tạo. Đối với hàng mộc cao cấp, gỗ mỹ nghệ và lâm sản ngoài gỗ (hồi, quế, cánh kiến, nhựa thông,...) cần ưu tiên cung cấp cho thị trường khu vực Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan. Ngoài ra, còn có thể xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ, Trung Đông, Nga, SNG và các nước Bắc âu.
3. Dự báo phát triển khoa học công nghệ trong lâm nghiệp
Những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới tiếp tục được áp dụng vào sản xuất lâm nghiệp như công nghệ sinh học, công nghệ tinh chế lâm sản ngoài gỗ, trồng rừng cao sản, cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt, chuyển hóa và sử dụng hiệu quả đất nương rãy, xác định giá trị môi trường rừng.v.v...
III. Đề xuất giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
1. Tập trung xây dựng lâm phận quốc gia ổn định
Để quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng toàn quốc theo quan điểm bền vững, đề xuất một số biện pháp cơ bản sau :
1.1. Đối với rừng phòng hộ
Trước mắt, cần căn cứ vào tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ, tiến hành rà soát rừng phòng hộ cho từng tỉnh, vùng và toàn quốc. Để đảm bảo 6,0 triệu ha rừng phòng hộ toàn quốc, nếu diện tích đất đã có rừng là 5,6 triệu ha, thì từ nay đến năm 2010 chỉ cần tạo mới 0,4 triệu ha rừng phòng hộ, mà giải pháp tốt nhất với rừng phòng hộ đầu nguồn là khoanh nuôi tái sinh tự nhiên để tạo ra rừng hỗn giao, nhiều tầng; với rừng phòng hộ ven biển thì nhất thiết phải trồng thêm rừng mới, là rừng hỗn loài và chọn loại cây trồng thích hợp với từng loại đất, loại rừng...
1.2. Đối với rừng đặc dụng
Trong thời gian tới, tiến hành rà soát lại hệ thống rừng đặc dụng toàn quốc, những khu nào không đạt tiêu chuẩn thì loại bỏ; những khu có quy mô quá rộng, không phù hợp thì giảm bớt và ngược lại, những khu nào có đủ điều kiện thì tiếp tục mở rộng, song phải đảm bảo tổng diện tích 2,0 triệu ha.
1.3. Đối với rừng sản xuất
Cần phải tiến hành quy hoạch lại đất đai những khu vực cần đầu tư xây dựng rừng nguyên liệu; phải có tiêu chí xây dựng rừng sản xuất, để có cơ sở khoa học và thực tiễn tiến hành quy hoạch rừng sản xuất. Theo Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2010, thì diện tích rừng sản xuất được xác định là 8,0 triệu ha. Hiện tại diện tích có rừng mới đạt 5,1 triệu ha, như vậy từ nay đến năm 2010 cần phải đầu tư trồng mới 2,9 triệu ha rừng sản xuất.
2. Đầu tư nâng cao chất lượng rừng tự nhiên kém chất lượng
Với trên 5,5 triệu ha rừng nghèo kém chất lượng, nếu để rừng tự phục hồi trở về nguyên trạng thì trong khoảng thời gian rất dài loại rừng này không có khả năng cung cấp lâm sản cho xã hội; song nếu khai thác trắng để trồng lại rừng mới thì tốn rất nhiều công sức, tiền của và môi trường sinh thái sẽ không được bảo đảm. Giải pháp tốt nhất đối với loại rừng này là cần phải điều tra phân loại, lựa chọn các giải pháp lâm sinh thích hợp với từng lô rừng trên từng tiểu vùng sinh thái, nhằm nâng cao chất lượng của rừng.
3. Điều tra phân hạng đất lâm nghiệp
Để hòa nhập với các nước trong khu vực và quốc tế, nước ta cần phải đầu tư điều tra phân loại đất lâm nghiệp toàn quốc theo tiêu chuẩn phân loại của FAO/UNESCO để sử dụng đất lâm nghiệp đạt hiệu quả; trong đó cần điều tra xây dựng bản đồ lập địa đất lâm nghiệp với tỷ lệ 1/25.000 đối với cấp xã, 1/50.000 đối với cấp huyện làm cơ sở cho lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp; xác định cây trồng thích hợp và góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng, bảo đảm hiệu quả và sử dụng lâu bền nguồn tài nguyên đất.
4. Đầu tư tiến bộ kỹ thuật cho sản xuất lâm nghiệp
- Đầu tư công nghệ sinh học, công nghệ gen nghiên cứu tạo giống mới hoặc nhập nội giống cây lâm nghiệp phù hợp với môi trường sinh thái Việt Nam; có chu kỳ kinh doanh ngắn, có giá trị và sản lượng cao, góp phần cải thiện môi trường.
- Đầu tư sử dụng ảnh viễn thám chất lượng cao phục vụ theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, xây dựng bản đồ rừng, giao đất lâm nghiệp; lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hợp lý.
- Đầu tư nghiên cứu các giải pháp lâm sinh nâng cao chất lượng rừng tự nhiên kém chất lượng, nhằm sớm phát huy chức năng cải thiện môi trường của rừng, rút ngắn chu kỳ khai thác.
- Đầu tư nghiên cứu phát triển các nguồn lâm sản ngoài gỗ, nhằm bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, tạo thêm việc làm, thu nhập cho hộ gia đình sinh sống trong rừng và gần rừng.
5. Đổi mới cơ chế, chính sách lâm nghiệp
- Giao đất giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng quản lý bảo vệ và hưởng lợi theo các quyết định của Chính phủ.
- Đề nghị Nhà nước cho ngành Lâm nghiệp được khai thác rừng theo phương án quản lý rừng bền vững để tránh lãng phí lâm sản và giảm sức ép về nguyên liệu cho chế biến gỗ.
- Tạo điều kiện cho cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức khác được tiếp cận nguồn vốn vay để phát triển rừng sản xuất. Đối với các hộ gia đình dân tộc tại chỗ đề nghị Nhà nước hỗ trợ vốn để phát triển rừng kinh tế.
-Đối với diện tích rừng nghèo, rừng phục hồi tự nhiên, tuỳ theo chất lượng của đối tượng này để quyết định một trong các phương thức: chuyển đổi thành rừng trồng kinh tế, làm giàu rừng, nuôi dưỡng rừng.
- Đối với rừng sản xuất đề nghị nhà nước hỗ trợ giống cây trồng cho dân, cho các doanh nghiệp trồng rừng, vì rừng không chỉ có giá trị về kinh tế - xã hội, mà còn có ý nghĩa rất lớn về môi trường sinh thái, tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động.
- Đề nghị tăng cường thẩm định kết quả thống kê diện tích đất lâm nghiệp hàng năm của các tỉnh trước khi công bố. Do thiếu thẩm định và giám sát nên số liệu mang tính chủ quan, làm sai lệch chiến lược và quy hoạch ở các cấp độ khác nhau.
- Đề nghị Nhà nước xem xét lại suất đầu tư cho công tác quản lý bảo vệ rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng, để người dân được giao khoán có thu nhập đủ sống để làm nghề rừng.
Nhìn một cách tổng quát, công tác điều tra, đánh giá và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng đã cung cấp đầy đủ các thông tin về số lượng, chất lượng cũng như về xu hướng diễn biến tài nguyên rừng trong mối quan hệ với các hoạt động kinh tế - xã hội, làm căn cứ quan trọng cho việc đề xuất, kiến nghị với Nhà nước những giải pháp thích hợp để tăng cường hiệu quả quản lý, sử dụng và phát triển lâu bền nguồn tài nguyên rừng; và làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng chiến lược và kế hoạch sử dụng hợp lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi toàn quốc. Đối với giai đoạn 2001 – 2005 công tác này đã đạt những kết quả chủ yếu sau:
- Cùng với đánh giá hiện trạng diện tích, trữ lượng tài nguyên rừng, đã nghiên cứu các nguyên nhân gây biến động tài nguyên rừng liên quan đến tình hình kinh tế - xã hội, phục vụ cho việc xây dựng Chiến lược lâm nghiệp quốc gia 2006-2020 và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch phát triển lâm nghiệp 2006-2010 trên quy mô tỉnh, vùng kinh tế và toàn quốc. Bên cạnh đó, còn cung cấp số liệu phục vụ cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ở các quy mô khác nhau.
- Ngoài bản đồ hiện trạng và số liệu về diện tích, trữ lượng rừng; đã cung cấp thông tin về đặc trưng, động thái của tài nguyên rừng, khả năng tái sinh phục hồi và những yếu tố khác liên quan đến sự tồn tại và phát triển của tài nguyên rừng (bao gồm cả động vật, thực vật và tài nguyên côn trùng rừng, lâm sản ngoài gỗ...); khả năng tái sinh phục hồi rừng trên đất trống đồi núi trọc phục vụ Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng; cung cấp thông tin về diễn biến cấu trúc và năng suất rừng tự nhiên, đặc điểm lâm học rừng phục hồi.v.v... Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở quan trọng cho các nhà khoa học đề xuất các giải pháp lâm sinh thích hợp, nhằm tăng cường hiệu quả việc quản lý, sử dụng và phát triển tài nguyên rừng nói chung và nâng cao giá trị kinh tế, môi trường của rừng nói riêng; đồng thời làm giàu thêm cơ sở dữ liệu về nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu ứng dụng về rừng nhiệt đới của nước ta.
- Đã thiết lập hệ thống tiếp nhận thông tin về tài nguyên rừng với các cơ quan quản lý rừng từ Trung ương tới địa phương. Nguồn thông tin được theo dõi cho đến tận đơn vị cơ sở (tiểu khu) nhằm cung cấp cho các cơ quan chức năng hệ thống số liệu đảm bảo độ chính xác, đáp ứng kịp thời yêu cầu của các cấp, các ngành và các cơ quan có liên quan. Đồng thời hoàn chỉnh hệ thống cơ sở dữ liệu tài nguyên rừng, thực hiện quản lý trên mạng và kết nối với "Cơ sở dữ liệu của ngành về quản lý rừng và sử dụng đất lâm nghiệp" để có thể cập nhật và cung cấp thông tin kịp thời với độ chính xác cao, phục vụ tốt cho công tác quản lý Nhà nước cũng như nghiên cứu khoa học kỹ thuật về lâm nghiệp và các lĩnh vực có liên quan.
Bên cạnh những kết quả đạt đượcucòn một số tồn tại sau:
- Chưa đi sâu nghiên cứu chức năng sinh thái của rừng trong các mối quan hệ với nền kinh tế, xã hội của nước ta hiện nay. Việc phân tích các chỉ tiêu về rừng và diễn biến qua các thời kỳ mới dừng ở cấp vùng, chưa đi sâu phân tích theo các tiểu vùng sinh thái lâm nghiệp.
- Mối quan hệ của rừng với các yếu tố khí hậu, đất đai ở lưu vực các sông chưa được phân tích đánh giá, do vậy chưa khẳng định được tính cấp thiết trong việc hạn chế lũ lụt, thiên tai ở các lưu vực sông lớn.
- Việc phân chia rừng và đất lâm nghiệp theo đai cao, độ dốc trên mới dừng ở mức độ chung cho ba loại rừng, chưa đưa ra được các vùng thuận lợi, vùng khó khăn giúp cho việc quy hoạch, kế hoạch rừng sản xuất.
Để làm tốt hơn nữa việc điều tra,uđánh giá và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng trong chu kỳ tới, cần giải quyết tốt một số vấn đề sau:
- Tăng cường thiết chế trong việc cung cấp, trao đổi thông tin để có điều kiện, trao đổi, cập nhật thông tin từ các cơ sở và các đơn vị hữu quan nhằm góp phần xây dựngcơ sở dữ liệu hoàn chỉnh và khai thác một cách hiệu quả thông tin phục vụ cho công tác quản lý ngành.
- Đề nghị Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT tạo điều kiện cho sử dụng ảnh vệ tinh chất lượng cao nhằm phục vụ có hiệu quả hơn việc lập quy hoạch, kế hoạch phát triển lâm nghiệp các cấp và phục vụ kịp thời các chương trình trọng điểm của Nhà nước về lâm nghiệp như: giao rừng và đất lâm nghiệp đến hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng; xây dựng phương án điều chế cho các lâm trường nhằm tạo cơ sở cho quản lý rừng bền vững; phục vụ thiết kế khai thác rừng, trồng rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng .v.v....
- Việc thực thi điều tra, đánh giá và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng trên từng vùng lãnh thổ cần theo một dây chuyền hợp lý và đảm bảo đủ năng lực chuyên môn, có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các trung tâm khoa học công nghệ và đơn vị điều tra quy hoạch rừng; ngoài ra cần cho phép mở rộng mối quan hệ hợp tác với các cơ quan, tổ chức liên quan trong và ngoài nước để tranh thủ sự hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng chuyên môn của công việc.
Nguồn: Bản tin Lâm nghiệp, số 01/2007








