Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 24/02/2010 23:21 (GMT+7)

Quá trình hình thành và phát triển công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam

1. Tự bao giờ?

1.1. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước

Với đường lối đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy trong lĩnh vực kinh tế, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã mở ra một thời kỳ mới phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bên cạnh nền sản xuất được mở rộng, một luồng gió mới cũng được thổi vào đời sống tinh thần – tư tưởng. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trở thành một khẩu hiệu, một phương châm hành động.

Trong bối cảnh đó, ngày 11-4-1988, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 35-CT/TW về củng cố tổ chức và đẩy mạnh hoạt động của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, trong đó chỉ rõ một trong những nhiệm vụ chủ yếu của Liên hiệp hội Việt Nam là “ tư vấnvề chính sách khoa học - kỹ thuật và kinh tế - xã hội cho Đảng và Nhà nước”, đồng thời yêu cầu các cơ quan hữu quan tạo điều kiện để Liên hiệp hội Việt Nam “thực hiện được chức năng phản biện và giám định xã hộivề khoa học - kỹ thuật của một hội quần chúng”.

Phát biểu ý kiến chỉ đạo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Liên hiệp hội Việt Nam ngày 12-5-1988, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh khẳng định: “Các hội khoa học - kỹ thuật cũng phải trả lời câu hỏi: mình đã góp phần như thế nào vào việc phản biện, tư vấnđể ngăn chặn việc xây dựng hàng trăm công trình lớn nhỏ gây lãng phí tiền của nhưng chất lượng rất thấp, thậm chí có cái không dùng được…. Với sức mạnh tổng hợp liên ngành và cách làm việc hợp tác năng động, Liên hiệp hội cũng có thể… làm tốt chức năng phản biện và giám định xã hộicủa hội.”

Tại Thông báo 37-TB/TW ngày 20-11-1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khoá VII) yêu cầu Ban cán sự Đảng của Chính phủ “trước hết cần thể chế hoá chức năng tư vấn, phản biện và giám định xã hộivề khoa học và kỹ thuật của các hội”, đồng thời giao nhiệm vụ cho các tỉnh uỷ, thành uỷ “phát huy vai trò của hội, trong đó có vai trò tư vấn, phản biện và giám định xã hộivề khoa học và công nghệ ở địa phương”.

Trong bài phát biểu ý kiến chỉ đạo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Liên hiệp hội Việt Nam ngày 27-9-1993, Tổng Bí thư Đỗ Mười biểu dương những đóng góp to lớncủa Liên hiệp hội Việt Nam trong việc “đảm nhận vai trò tư vấn, phản biện, giám địnhcác dự thảo về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các dự luật, các dự án kinh tế - xã hội và khoa học, công nghệ ở tầm quốc gia”.

Ngày 24-12-1996, lần đầu tiên, Liên hiệp hội Việt Nam được nêu đích danh trong một Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đó là Nghị quyết Trung ương 2 (Khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000, trong đó có đoạn: “Phát huy vai trò chính trị - xã hội của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật ở trung ương và địa phương… trong công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội”.

Bên cạnh các văn kiện của Đảng đã nêu trên đây, hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam cũng được đề cập trong các văn kiện của Chính phủ. Chẳng hạn, tại Thông báo 115/TB ngày 19-4-1993, Văn phòng Chính phủ truyền đạt ý kiến của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt là “Nhà nước khuyến khích các hội tham gia… phản biện và thẩm địnhcác công trình”.

Như vậy là trong nhiều năm trước thời điểm cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000”. Đảng và Chính phủ đã liên tục ban hành một loạt các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, trong đó có đề cập một cách nhất quán đến hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hộicủa Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên. Về sau, nội dung này còn được tiếp tục đề cập trong nhiều văn kiện quan trọng khác của Đảng và Chính phủ mà đỉnh cao là Chỉ thị 45-CT/TW, Thông báo 145-TB/TW, Chỉ thị 14/2000/CT-TTg, Quyết định 22/2002/QĐ-TTg.

1.2. Sự thể hiện trong Điều lệ của Liên hiệp hội Việt Nam

Trên cơ sở nội dung Chỉ thị 35-CT/TW và ý kiến phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, lần đầu tiên, trong Điều lệ của Liên hiệp hội Việt Nam do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II thông qua ngày 12-5-1988 có đoạn ghi một trong những nhiệm vụ của Liên hiệp hội Việt Nam là “ Tư vấn, phản biện và giám định xã hộivề khoa học - kỹ thuật và kinh tế - xã hội cho các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước”.

Kiên trì ý tưởng đúng đắn và quan trọng đó, ngày 27-9-1992, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III tiếp tục khẳng định trong Điều lệ của Liên hiệp hội Việt Nam một trong những nhiệm vụ là “ Tư vấn, phản biện và giám định xã hộivề khoa học và công nghệ, kinh tế - xã hội cho các cơ quan của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác”.

Như vậy là trước thời điểm “cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000”, liên tục hai kỳ Đại hội đều đã đưa hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hộivào Điều lệ như là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Liên hiệp hội Việt Nam. (Trong các năm 1999 và 2004, nhiệm vụ này lại còn tiếp tục được khẳng định trong Điều lệ nhiệm kỳ IV (1999 – 2004) và Điều lệ nhiệm kỳ V (2004 – 2009) của Liên hiệp hội Việt Nam).

1.3. Hoạt động thực tiễn

Thực hiện Chỉ thị 35-CT/TW và Điều lệ nhiệm kỳ II, ngay từ những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, Liên hiệp hội Việt Nam đã tập hợp chuyên gia của các hội thành viên đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện của Đảng và Nhà nước như Báo cáo chính trị trình Đại hội VII của Đảng, Hiến pháp 1992… Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, tại các cuộc gặp và làm việc với Tổng Bí thư Đỗ Mười và nhiều đồng chí lãnh đạo khác của Đảng và Nhà nước diễn ra trong các ngày 20 và 24-9-1991, đại biểu của Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên đã nhất trí cao với sự đánh giá hiện trạng đất nước, khẳng định những thành quả bước đầu về chính trị, kinh tế, xã hội của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt nam khởi xướng và lãnh đạo, đề xuất những kiến nghị đúng đắn nhằm góp phần khắc phục khó khăn trước mắt và tiếp tục đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Theo đề nghị của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tại công văn 54-UB/TĐ ngày 17-6-1992, Liên hiệp hội Việt Nam bắt đầu thực hiện nhiệm vụ tư vấn, phản biện luận chứng kinh tế - kỹ thuật công trình thuỷ điện Yaly trên sông Sêsan (Gia Lai).

Tiếp theo đó, nhận lời mời của Ban quản lý công trình đường dây 500kV, đầu năm 1993, Liên hiệp hội Việt Namtổ chức thẩm tra hồ sơ kỹ thuật hệ thống tải điện 500kV Bắc – Nam do Hãng Nippon Koei (Nhật Bản) soạn thảo. (Hợp đồng khoa học - kỹ thuật ngày 27-1-1993).

Thực hiện Hợp đồng 2369 UB/VPTD, ngày 16-11-1993 với Hội đồng Thẩm tra luận chứng kinh tế - kỹ thuật cấp Nhà nước, Liên hiệp hội Việt Nam tổ chức “ phản biện dự án tiền khả thi công trình thuỷ điện Sơn La”. Từ đây bắt đầu “Mười năm vương vấn với Sông Đà”, trong đó Liên hiệp hội Việt Nam tổ chức tư vấn thẩm định 6 bộ hồ sơ khác nhau liên quan đến công trình thế kỷ Thuỷ điện Sông Đà.

Ngày 23-12-1993, Liên hiệp hội Việt Nam ký kết với Hội đồng Thẩm tra luận chứng kinh tế - kỹ thuật cấp Nhà nước “ Hợp đồng phản biện luận chứng kinh thế - kỹ thuật nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ” mang số hiệu 2788 UB/VPTĐ.

Tháng 8-1994, Liên hiệp hội Việt Nam tổ chức thực hiện “ phản biện luận chứng kinh tế - kỹ thuật nhà máy nhiệt điện Phả Lại II” theo hợp đồng ký kết với Hội đồng Thẩm tra luận chứng kinh tế - kỹ thuật cấp Nhà nước ngày 8-8-1994.

Theo yêu cầu của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, đầu năm 1995, Liên hiệp hội Việt Nam tổ chức thẩm tra báo cáo của Bộ Thuỷ lợi (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) về biện pháp xử lý kỹ thuật bước 1 các vi phạm Luật đê điều ở Hà Nội. Tiếp theo đó, căn cứ chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Liên hiệp hội Việt Nam phối hợp với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) tổ chức Hội đồng Khoa học – Công nghệ cấp Nhà nước để thẩm định phương án bước 2 của Bộ Thuỷ lợi về xử lý kỹ thuật đê sông Hồng trong phạm vi Hà Nội.

Sau đây là danh mục các dự án đầu tư có sự đóng góp ý kiến của Liên hiệp hội Việt Nam (tính đến đầu năm 1995).

TT

Tên dự án

Thời gian

Số hội

tham gia

Số người

tham gia

Kinh phí

(triệu đồng)

1

Công trình thuỷ điện Yaly

7 – 1992

6

28

26

2

Đường dây tải điện 500 kV

2 – 1993

4

21

28,6

3

Nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ

12 – 1993

5

11

15

4

Dự án tiền khả thi công trình thuỷ điện Sơn La

4 – 1994

7

16

15

5

Nhà máy nhiệt điện Phả Lại II

8 – 1994

6

16

6

Phương án xử lý kỹ thuật các vi phạm Luật về đê điều ở Hà Nội

4 – 1995

4

25

Như vậy là cho đến trước thời điểm “cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000”, Liên hiệp hội Việt Nam đã tiến hành tư vấn, phản biện hoặc thẩm định 6 dự án đầu tư lớn của Nhà nước”. (Trong thời gian tiếp theo cho đến năm 2002, gần 10 dự án đầu tư lớn khác đã có ý kiến tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam ).

2. Tự phát hay chuyên nghiệp?

Có ý kiến cho rằng hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam còn mang tính “tự phát” để rồi sau đó “từ tự phát” mới đạt được “đến chuyên nghiệp” như hiện nay.

2.1. Thế nào là “tự phát”?

Tại cuối trang 1764 của Đại từ điển tiếng Việt, “ tự phát” được xác định là “tự phát sinh, không có tổ chức lãnh đạo, thiếu cân nhắc”.

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, tập IV, cuối trang 721 thì “ tự phát” là “tự nhiên sinh ra, không có nguồn gốc bên trong hoặc sự tác động, ảnh hưởng bên ngoài”.

Như vậy, nếu chấp nhận các tài liệu chính thức hiện đáng tin cậy của Nhà nước Việt Nam thì tự phátbao gồm ít nhất là các yếu tố: a) tự nhiên phát sinh ra, b) không có nguồn gốc bên trong, thiếu cân nhắc, c) không có tổ chức lãnh đạo, không có sự tác động, ảnh hưởng bên ngoài.

2.2. Liệu có “tự phát”?

Từ khái niệm “ tự phát”, được xác định trong Đại từ điển tiếng Việt và Từ điển bách khoa Việt Nam, đối chiếu với những điều trình bày ở mục 1 trên đây ta thấy:

a) Sự tồn tại có đầy đủ hiệu lực thi hành và tác động liên tục trong một thời gian dài của một nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 1 chỉ thị và 1 thông báo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, 1 thông báo của Văn phòng Chính phủ, với những ý kiến phát biểu chỉ đạo trực tiếp của hai Tổng Bí thư hai khoá liên tiếp thì liệu hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam từ đầu những năm 1990 đã có tổ chức lãnh đạo và không phải tự nhiên sinh ra.

b) Với hai lần được Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp hội Việt Nam đưa vào Điều lệ chính thức chứng tỏ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam hoàn toàn có nguồn gốc bên trong và đã được cân nhắc cẩn thận.

Với kết quả là nhiều dự thảo văn kiện của Đảng và Nhà nước có ý kiến đóng góp, với 6 dự án có ý kiến tư vấn, phản biện, thẩm định liên tục trong một thời gian dài nhiều năm, hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam đã được Tổng Bí thư Đỗ Mười biểu dương, được Hội đồng Thẩm định Nhà nước Dự án Thuỷ điện Sơn La khen thưởng. Tổng hợp lại, hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên diễn ra suốt từ sau Đại hội II đến cuối những năm 1990 trong những điều kiện có hạn cả về nhân lực và vật lực, có sự lãnh đạo của Đảng, sự thể chế hoá của Chính phủ, sự khẳng định trong Điều lệ nhiều nhiệm kỳ, với sự nỗ lực cao của hàng trăm chuyên gia, góp phần giải quyết nhiều vấn đề hệ trọng, được biểu dương, khen thưởng, có phải là “ tự phát” hay không?

Gần như cả năm 2001, Liên hiệp hội Việt Nam cùng với Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ), Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp xây dựng dự thảo văn bản cụ thể hoá điều 2 trong Chỉ thị 14/2000/CT-TTg ngày 1-8-2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện các biện pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam. Sau khi Quyết định 22/2002/QĐ-TTg ngày 30-1-2002 của Thủ tướng Chính phủ về hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam có hiệu lực, trong những tháng cuối năm 2002, Liên hiệp hội Việt Nam đã liên tục tổ chức các cuộc hội thảo theo vùng với chủ đề “Quán triệt Quyết định 22/2002/QĐ-TTg về tư vấn, phản biện và giám định xã hội” tại Cần Thơ (6-7/11/2002), Phú Yên (12-13/11/2002), Hà Tĩnh (19-20/11/2002) và hội thảo toàn quốc tại Đà Nẵng (16-17/12/2002). Kết quả các cuộc hội thảo này là “Chương trình hành động triển khai thực hiện Quyết định 22/2002/QĐ-TTg về tư vấn, phản biện và giám định xã hội” được Hội nghị lần thứ 5 Hội đồng Trung ương Liên hiệp hội Việt Nam thông qua ngày 25-3-2003. Cũng vào dịp này, Liên hiệp hội Việt Nam ban hành văn bản số 733/LHH “Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám định xã hội”, thành lập Ban công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội (gọi tắt là Ban 22) và 19 Hội đồng tư vấn chuyên ngành. Các sự kiện trên đây là những sự nỗ lực có ý thức, có tổ chức và có kế hoạch của Liên hiệp hội Việt Nam, diễn ra trong hai năm 2001 và 2002.

3. Quy trình nào?

3.1. “Phi quy trình bất thành chuyên nghiệp”

Bạn đọc nào đã dự các cuộc hội thảo khoa học với chủ đề “Triển khai Quyết định 22/2002/QĐ-TTg về tư vấn, phản biện và giám định xã hội” do Liên hiệp hội Việt Nam tổ chức tại Cần Thơ, Phú Yên, Hà Tĩnh, Đà Nẵng vào cuối năm 2002, chắc hẳn còn nhớ một bản báo cáo mang tên “Tư vấn, phản biện và giám định xã hội - Tiềm năng và nhiệm vụ của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam”. Đây là kết quả tổng hợp tình hình thực hiện hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam diễn ra trong cả một thời gian dài từ đầu những năm 1990 và đã xây dựng quy trình tư vấn, phản biện và giám định xã hội như sau:

Chuẩn bị

- Xác định mục đích, yêu cầu;

- Thống nhất nội dung, thời gian hoàn thành;

- Lựa chọn nhân sự;

- Thành lập Hội đồng khoa học;

- Xây dựng và phê duyệt đề cương, kế hoạch;

- Lập dự toán và ký kết hợp đồng.

Triển khai thực hiện

- Nghe thuyết trình về nội dung đề án;

- Nghiên cứu thực địa;

- Lập các tổ chuyên môn;

- Cung cấp tài liệu, địa điểm làm việc;

- Làm việc ở các tổ chuyên môn;

- Tính toán kiểm tra;

- Hội thảo khoa học;

- Làm báo cáo tổng hợp;

- Hoàn chỉnh sản phẩm khoa học.

Kết thúc

- Giao nộp sản phẩm khoa học;

- Thanh lý hợp đồng;

- Thanh quyết toán.

“Quy trình” này cũng đã được giới thiệu trong bài viết “Tư vấn, phản biện và giám định xã hội - Những công việc cần làm” đăng trên tạp chí “Khoa học và Tổ quốc” số 6-2003 (212) ra ngày 20-3-2003 nhân dịp kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.