Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 24/02/2010 23:21 (GMT+7)

Quá trình hình thành và phát triển công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam

1. Tự bao giờ?

1.1. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước

Với đường lối đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy trong lĩnh vực kinh tế, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã mở ra một thời kỳ mới phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bên cạnh nền sản xuất được mở rộng, một luồng gió mới cũng được thổi vào đời sống tinh thần – tư tưởng. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trở thành một khẩu hiệu, một phương châm hành động.

Trong bối cảnh đó, ngày 11-4-1988, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 35-CT/TW về củng cố tổ chức và đẩy mạnh hoạt động của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, trong đó chỉ rõ một trong những nhiệm vụ chủ yếu của Liên hiệp hội Việt Nam là “ tư vấnvề chính sách khoa học - kỹ thuật và kinh tế - xã hội cho Đảng và Nhà nước”, đồng thời yêu cầu các cơ quan hữu quan tạo điều kiện để Liên hiệp hội Việt Nam “thực hiện được chức năng phản biện và giám định xã hộivề khoa học - kỹ thuật của một hội quần chúng”.

Phát biểu ý kiến chỉ đạo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Liên hiệp hội Việt Nam ngày 12-5-1988, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh khẳng định: “Các hội khoa học - kỹ thuật cũng phải trả lời câu hỏi: mình đã góp phần như thế nào vào việc phản biện, tư vấnđể ngăn chặn việc xây dựng hàng trăm công trình lớn nhỏ gây lãng phí tiền của nhưng chất lượng rất thấp, thậm chí có cái không dùng được…. Với sức mạnh tổng hợp liên ngành và cách làm việc hợp tác năng động, Liên hiệp hội cũng có thể… làm tốt chức năng phản biện và giám định xã hộicủa hội.”

Tại Thông báo 37-TB/TW ngày 20-11-1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khoá VII) yêu cầu Ban cán sự Đảng của Chính phủ “trước hết cần thể chế hoá chức năng tư vấn, phản biện và giám định xã hộivề khoa học và kỹ thuật của các hội”, đồng thời giao nhiệm vụ cho các tỉnh uỷ, thành uỷ “phát huy vai trò của hội, trong đó có vai trò tư vấn, phản biện và giám định xã hộivề khoa học và công nghệ ở địa phương”.

Trong bài phát biểu ý kiến chỉ đạo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Liên hiệp hội Việt Nam ngày 27-9-1993, Tổng Bí thư Đỗ Mười biểu dương những đóng góp to lớncủa Liên hiệp hội Việt Nam trong việc “đảm nhận vai trò tư vấn, phản biện, giám địnhcác dự thảo về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các dự luật, các dự án kinh tế - xã hội và khoa học, công nghệ ở tầm quốc gia”.

Ngày 24-12-1996, lần đầu tiên, Liên hiệp hội Việt Nam được nêu đích danh trong một Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đó là Nghị quyết Trung ương 2 (Khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000, trong đó có đoạn: “Phát huy vai trò chính trị - xã hội của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật ở trung ương và địa phương… trong công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội”.

Bên cạnh các văn kiện của Đảng đã nêu trên đây, hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam cũng được đề cập trong các văn kiện của Chính phủ. Chẳng hạn, tại Thông báo 115/TB ngày 19-4-1993, Văn phòng Chính phủ truyền đạt ý kiến của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt là “Nhà nước khuyến khích các hội tham gia… phản biện và thẩm địnhcác công trình”.

Như vậy là trong nhiều năm trước thời điểm cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000”. Đảng và Chính phủ đã liên tục ban hành một loạt các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, trong đó có đề cập một cách nhất quán đến hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hộicủa Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên. Về sau, nội dung này còn được tiếp tục đề cập trong nhiều văn kiện quan trọng khác của Đảng và Chính phủ mà đỉnh cao là Chỉ thị 45-CT/TW, Thông báo 145-TB/TW, Chỉ thị 14/2000/CT-TTg, Quyết định 22/2002/QĐ-TTg.

1.2. Sự thể hiện trong Điều lệ của Liên hiệp hội Việt Nam

Trên cơ sở nội dung Chỉ thị 35-CT/TW và ý kiến phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, lần đầu tiên, trong Điều lệ của Liên hiệp hội Việt Nam do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II thông qua ngày 12-5-1988 có đoạn ghi một trong những nhiệm vụ của Liên hiệp hội Việt Nam là “ Tư vấn, phản biện và giám định xã hộivề khoa học - kỹ thuật và kinh tế - xã hội cho các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước”.

Kiên trì ý tưởng đúng đắn và quan trọng đó, ngày 27-9-1992, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III tiếp tục khẳng định trong Điều lệ của Liên hiệp hội Việt Nam một trong những nhiệm vụ là “ Tư vấn, phản biện và giám định xã hộivề khoa học và công nghệ, kinh tế - xã hội cho các cơ quan của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác”.

Như vậy là trước thời điểm “cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000”, liên tục hai kỳ Đại hội đều đã đưa hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hộivào Điều lệ như là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Liên hiệp hội Việt Nam. (Trong các năm 1999 và 2004, nhiệm vụ này lại còn tiếp tục được khẳng định trong Điều lệ nhiệm kỳ IV (1999 – 2004) và Điều lệ nhiệm kỳ V (2004 – 2009) của Liên hiệp hội Việt Nam).

1.3. Hoạt động thực tiễn

Thực hiện Chỉ thị 35-CT/TW và Điều lệ nhiệm kỳ II, ngay từ những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, Liên hiệp hội Việt Nam đã tập hợp chuyên gia của các hội thành viên đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện của Đảng và Nhà nước như Báo cáo chính trị trình Đại hội VII của Đảng, Hiến pháp 1992… Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, tại các cuộc gặp và làm việc với Tổng Bí thư Đỗ Mười và nhiều đồng chí lãnh đạo khác của Đảng và Nhà nước diễn ra trong các ngày 20 và 24-9-1991, đại biểu của Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên đã nhất trí cao với sự đánh giá hiện trạng đất nước, khẳng định những thành quả bước đầu về chính trị, kinh tế, xã hội của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt nam khởi xướng và lãnh đạo, đề xuất những kiến nghị đúng đắn nhằm góp phần khắc phục khó khăn trước mắt và tiếp tục đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Theo đề nghị của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tại công văn 54-UB/TĐ ngày 17-6-1992, Liên hiệp hội Việt Nam bắt đầu thực hiện nhiệm vụ tư vấn, phản biện luận chứng kinh tế - kỹ thuật công trình thuỷ điện Yaly trên sông Sêsan (Gia Lai).

Tiếp theo đó, nhận lời mời của Ban quản lý công trình đường dây 500kV, đầu năm 1993, Liên hiệp hội Việt Namtổ chức thẩm tra hồ sơ kỹ thuật hệ thống tải điện 500kV Bắc – Nam do Hãng Nippon Koei (Nhật Bản) soạn thảo. (Hợp đồng khoa học - kỹ thuật ngày 27-1-1993).

Thực hiện Hợp đồng 2369 UB/VPTD, ngày 16-11-1993 với Hội đồng Thẩm tra luận chứng kinh tế - kỹ thuật cấp Nhà nước, Liên hiệp hội Việt Nam tổ chức “ phản biện dự án tiền khả thi công trình thuỷ điện Sơn La”. Từ đây bắt đầu “Mười năm vương vấn với Sông Đà”, trong đó Liên hiệp hội Việt Nam tổ chức tư vấn thẩm định 6 bộ hồ sơ khác nhau liên quan đến công trình thế kỷ Thuỷ điện Sông Đà.

Ngày 23-12-1993, Liên hiệp hội Việt Nam ký kết với Hội đồng Thẩm tra luận chứng kinh tế - kỹ thuật cấp Nhà nước “ Hợp đồng phản biện luận chứng kinh thế - kỹ thuật nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ” mang số hiệu 2788 UB/VPTĐ.

Tháng 8-1994, Liên hiệp hội Việt Nam tổ chức thực hiện “ phản biện luận chứng kinh tế - kỹ thuật nhà máy nhiệt điện Phả Lại II” theo hợp đồng ký kết với Hội đồng Thẩm tra luận chứng kinh tế - kỹ thuật cấp Nhà nước ngày 8-8-1994.

Theo yêu cầu của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, đầu năm 1995, Liên hiệp hội Việt Nam tổ chức thẩm tra báo cáo của Bộ Thuỷ lợi (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) về biện pháp xử lý kỹ thuật bước 1 các vi phạm Luật đê điều ở Hà Nội. Tiếp theo đó, căn cứ chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Liên hiệp hội Việt Nam phối hợp với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) tổ chức Hội đồng Khoa học – Công nghệ cấp Nhà nước để thẩm định phương án bước 2 của Bộ Thuỷ lợi về xử lý kỹ thuật đê sông Hồng trong phạm vi Hà Nội.

Sau đây là danh mục các dự án đầu tư có sự đóng góp ý kiến của Liên hiệp hội Việt Nam (tính đến đầu năm 1995).

TT

Tên dự án

Thời gian

Số hội

tham gia

Số người

tham gia

Kinh phí

(triệu đồng)

1

Công trình thuỷ điện Yaly

7 – 1992

6

28

26

2

Đường dây tải điện 500 kV

2 – 1993

4

21

28,6

3

Nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ

12 – 1993

5

11

15

4

Dự án tiền khả thi công trình thuỷ điện Sơn La

4 – 1994

7

16

15

5

Nhà máy nhiệt điện Phả Lại II

8 – 1994

6

16

6

Phương án xử lý kỹ thuật các vi phạm Luật về đê điều ở Hà Nội

4 – 1995

4

25

Như vậy là cho đến trước thời điểm “cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000”, Liên hiệp hội Việt Nam đã tiến hành tư vấn, phản biện hoặc thẩm định 6 dự án đầu tư lớn của Nhà nước”. (Trong thời gian tiếp theo cho đến năm 2002, gần 10 dự án đầu tư lớn khác đã có ý kiến tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam ).

2. Tự phát hay chuyên nghiệp?

Có ý kiến cho rằng hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam còn mang tính “tự phát” để rồi sau đó “từ tự phát” mới đạt được “đến chuyên nghiệp” như hiện nay.

2.1. Thế nào là “tự phát”?

Tại cuối trang 1764 của Đại từ điển tiếng Việt, “ tự phát” được xác định là “tự phát sinh, không có tổ chức lãnh đạo, thiếu cân nhắc”.

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, tập IV, cuối trang 721 thì “ tự phát” là “tự nhiên sinh ra, không có nguồn gốc bên trong hoặc sự tác động, ảnh hưởng bên ngoài”.

Như vậy, nếu chấp nhận các tài liệu chính thức hiện đáng tin cậy của Nhà nước Việt Nam thì tự phátbao gồm ít nhất là các yếu tố: a) tự nhiên phát sinh ra, b) không có nguồn gốc bên trong, thiếu cân nhắc, c) không có tổ chức lãnh đạo, không có sự tác động, ảnh hưởng bên ngoài.

2.2. Liệu có “tự phát”?

Từ khái niệm “ tự phát”, được xác định trong Đại từ điển tiếng Việt và Từ điển bách khoa Việt Nam, đối chiếu với những điều trình bày ở mục 1 trên đây ta thấy:

a) Sự tồn tại có đầy đủ hiệu lực thi hành và tác động liên tục trong một thời gian dài của một nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 1 chỉ thị và 1 thông báo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, 1 thông báo của Văn phòng Chính phủ, với những ý kiến phát biểu chỉ đạo trực tiếp của hai Tổng Bí thư hai khoá liên tiếp thì liệu hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam từ đầu những năm 1990 đã có tổ chức lãnh đạo và không phải tự nhiên sinh ra.

b) Với hai lần được Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp hội Việt Nam đưa vào Điều lệ chính thức chứng tỏ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam hoàn toàn có nguồn gốc bên trong và đã được cân nhắc cẩn thận.

Với kết quả là nhiều dự thảo văn kiện của Đảng và Nhà nước có ý kiến đóng góp, với 6 dự án có ý kiến tư vấn, phản biện, thẩm định liên tục trong một thời gian dài nhiều năm, hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam đã được Tổng Bí thư Đỗ Mười biểu dương, được Hội đồng Thẩm định Nhà nước Dự án Thuỷ điện Sơn La khen thưởng. Tổng hợp lại, hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên diễn ra suốt từ sau Đại hội II đến cuối những năm 1990 trong những điều kiện có hạn cả về nhân lực và vật lực, có sự lãnh đạo của Đảng, sự thể chế hoá của Chính phủ, sự khẳng định trong Điều lệ nhiều nhiệm kỳ, với sự nỗ lực cao của hàng trăm chuyên gia, góp phần giải quyết nhiều vấn đề hệ trọng, được biểu dương, khen thưởng, có phải là “ tự phát” hay không?

Gần như cả năm 2001, Liên hiệp hội Việt Nam cùng với Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ), Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp xây dựng dự thảo văn bản cụ thể hoá điều 2 trong Chỉ thị 14/2000/CT-TTg ngày 1-8-2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện các biện pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam. Sau khi Quyết định 22/2002/QĐ-TTg ngày 30-1-2002 của Thủ tướng Chính phủ về hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam có hiệu lực, trong những tháng cuối năm 2002, Liên hiệp hội Việt Nam đã liên tục tổ chức các cuộc hội thảo theo vùng với chủ đề “Quán triệt Quyết định 22/2002/QĐ-TTg về tư vấn, phản biện và giám định xã hội” tại Cần Thơ (6-7/11/2002), Phú Yên (12-13/11/2002), Hà Tĩnh (19-20/11/2002) và hội thảo toàn quốc tại Đà Nẵng (16-17/12/2002). Kết quả các cuộc hội thảo này là “Chương trình hành động triển khai thực hiện Quyết định 22/2002/QĐ-TTg về tư vấn, phản biện và giám định xã hội” được Hội nghị lần thứ 5 Hội đồng Trung ương Liên hiệp hội Việt Nam thông qua ngày 25-3-2003. Cũng vào dịp này, Liên hiệp hội Việt Nam ban hành văn bản số 733/LHH “Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám định xã hội”, thành lập Ban công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội (gọi tắt là Ban 22) và 19 Hội đồng tư vấn chuyên ngành. Các sự kiện trên đây là những sự nỗ lực có ý thức, có tổ chức và có kế hoạch của Liên hiệp hội Việt Nam, diễn ra trong hai năm 2001 và 2002.

3. Quy trình nào?

3.1. “Phi quy trình bất thành chuyên nghiệp”

Bạn đọc nào đã dự các cuộc hội thảo khoa học với chủ đề “Triển khai Quyết định 22/2002/QĐ-TTg về tư vấn, phản biện và giám định xã hội” do Liên hiệp hội Việt Nam tổ chức tại Cần Thơ, Phú Yên, Hà Tĩnh, Đà Nẵng vào cuối năm 2002, chắc hẳn còn nhớ một bản báo cáo mang tên “Tư vấn, phản biện và giám định xã hội - Tiềm năng và nhiệm vụ của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam”. Đây là kết quả tổng hợp tình hình thực hiện hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam diễn ra trong cả một thời gian dài từ đầu những năm 1990 và đã xây dựng quy trình tư vấn, phản biện và giám định xã hội như sau:

Chuẩn bị

- Xác định mục đích, yêu cầu;

- Thống nhất nội dung, thời gian hoàn thành;

- Lựa chọn nhân sự;

- Thành lập Hội đồng khoa học;

- Xây dựng và phê duyệt đề cương, kế hoạch;

- Lập dự toán và ký kết hợp đồng.

Triển khai thực hiện

- Nghe thuyết trình về nội dung đề án;

- Nghiên cứu thực địa;

- Lập các tổ chuyên môn;

- Cung cấp tài liệu, địa điểm làm việc;

- Làm việc ở các tổ chuyên môn;

- Tính toán kiểm tra;

- Hội thảo khoa học;

- Làm báo cáo tổng hợp;

- Hoàn chỉnh sản phẩm khoa học.

Kết thúc

- Giao nộp sản phẩm khoa học;

- Thanh lý hợp đồng;

- Thanh quyết toán.

“Quy trình” này cũng đã được giới thiệu trong bài viết “Tư vấn, phản biện và giám định xã hội - Những công việc cần làm” đăng trên tạp chí “Khoa học và Tổ quốc” số 6-2003 (212) ra ngày 20-3-2003 nhân dịp kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Khởi động Cuộc thi Samsung Solve for Tomorrow 2026: Lan tỏa tinh thần sáng tạo STEM trong học sinh
Sáng 11/4, tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) phối hợp cùng Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam (Samsung) tổ chức Lễ khởi động Cuộc thi Samsung Solve for Tomorrow 2026. Đây là sân chơi sáng tạo quy mô toàn quốc dành cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông, hướng tới thúc đẩy tư duy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong thế hệ trẻ.
Tuyên Quang: Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng
Chiều ngày 07/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng. Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các sở, ban ngành, UBMTTQ Việt Nam tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hội tỉnh.
Quảng Trị: Tập huấn Khởi nghiệp Đổi mới sáng tạo
Ngày 07/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tổ chức Hội nghị “Tập huấn Khởi nghiệp Đổi mới sáng tạo” với mục tiêu nâng cao nhận thức về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Qua đó, phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, các hội thành viên trong thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại địa phương.
Hải Phòng: Tập huấn nâng cao năng lực cho tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong hai ngày 02 - 03/4, Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể - Bộ Tài chính phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố đã tổ chức khoá đào tạo “Nâng cao năng lực cho tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua thông qua chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, hướng đến cải thiện nâng suất và việc làm thỏa đáng”.
Đồng chí Nguyễn Phi Long giữ chức Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương
Chiều 8/4, tại Hà Nội, Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương tổ chức Hội nghị triển khai quyết định của Bộ Chính trị về công tác cán bộ. Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam chủ trì Hội nghị.