Phòng trừ bệnh chảy gôm hại cây có múi
Bệnh phát sinh và gây hại nặng ở các vườn trồng dày, cây ít được tỉa cành tạo tán, đất quá ẩm ướt, vườn không có rãnh thoát nước, nước mưa, nước tưới chảy tràn từ gốc nọ sang gốc kia. Các vườn có tuổi từ 8 - 12 năm trở lên thường bị bệnh nặng. Trong các giống cây ăn quả có múi thì bưởi, chanh, đào, quất cảnh, quýt vỏ vàng Bắc Sơn là những giống bị nhiễm bệnh nặng. Bệnh phát triển mạnh từ tháng 9 năm trước đến tháng 5 năm sau. Cao điểm phát bệnh vào thời kỳ cây nở hoa và mang quả non. Đây cũng là một trong các nguyên nhân gây mất mùa các vùng bưởi đặc sản Phúc Trạch (Hà Tĩnh), Đoan Hùng (Phú Thọ) và nhiều vùng cam quýt khác.
Ở miền Bắc nước ta đã phát hiện được hai loài nấm gây bệnh này, là Phytophthora citrophthora và Phytophthora citrcola, nảy mầm được ở nhiệt độ 35 độ C; nấm Phytophthora Citricola, nảy mầm tốt ở nhiệt độ trên dưới 10 độ C. Như vậy cả mùa đông và mùa hè bệnh chảy gôm đều phát triển được. Cả hai loài nấm này đều phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ từ 15 - 25 độ C, ẩm độ không khí bão hòa, độ pH từ 4 - 8. Nấm lây lan phát tán nhờ nước mưa và nước tưới. Cần thực hiện tốt các biện pháp sau đây để hạn chế bệnh chảy gôm:
1- Tùy theo từng giống, trồng với mật độ thích hợp, để khi cây được từ 8 - 12 tuổi vẫn đảm bảo độ thông thoáng, vườn không bị quá rậm rạp.
2- Hàng năm phải vệ sinh vườn tược, tỉa cành, tạo tán cho cây.
3- Làm các rãnh tiêu nước trong mùa mưa, dẫn nước tưới trong mùa khô.
4- Bón phân cân đối giữa đạm, lân và kali, đặc biệt chú ý bón đủ kali. Mỗi năm bón vôi và phân chuồng một lần.
5- Dùng thuốc trừ bệnh có hoạt chất Fosetyl Aluminium như Alpine 80 WP, pha nồng độ 1 - 3‰ phun ướt đẫm toàn bộ tán lá, hoặc quét lên thân cây đều cho kết quả tốt. Từ tháng 9 - 12 mỗi tháng phun một lần thuốc; từ tháng 1 - 5 cứ 10 - 15 ngày phun thuốc một lần. Không nên hòa thuốc với nước rồi tưới vào gốc cây, hiệu quả không cao.
Dùng thuốc Alpine có tác dụng hơn hẳn Boóc-đô và Ridomin, vì Alpine có tác dụng qua nội hấp hai chiều và là thuốc đặc trị nấm phytophthora.
Nguồn: Nông nghiệp Việt Nam, 2/2006; vista 6/2/2006








