Phòng trị một số bệnh thường gặp ở cá rô phi
Bệnh xuất huyết
Tác nhân gây bệnh: Cầu khuẩn Streptococcus sp. Gram dương.
Dấu hiệu bệnh lý: Cá bơi lờ đờ, kém ăn hoặc bỏ ăn, hậu môn, gốc vây chuyển màu đỏ; mắt, mang, cơ quan nội tạng và cơ xuất huyết; máu loãng; thận, gan, lá lách mềm nhũn. Cá bệnh nặng bơi quay tròn không định hướng, mắt đục và lồi ra, bụng trương to.
Phân bố và lantruyền bệnh: Bệnh gặp ở nhiều loài cá nước ngọt. Khi nuôi cá rô phi năng suất cao trong hệ tuần hoàn khép kín, cá dễ phát bệnh. Bệnh có thể lây cho người khi chế biến cá không vệ sinh an toàn.
Phòng trị bệnh: Bón vôi (CaO) hoặc CaCO 3hoặc CaMg (CO 3) 2) tuỳ theo pH môi trường, liều lượng 1-2kg/100m 2, 2 – 4 lần/tháng.
Dùng Erythromyxin: trộn vào thức ăn, cho ăn trong 3-7 ngày, dùng 2-5g/100kg cá/ngày. Có thể phun xuống ao nồng độ 1-2 ppm, sau đó sang ngày thứ 2 trộn vào thức ăn 4g/100kg cá, từ ngày thứ 3 đến thứ 5 giảm còn một nửa. Thuốc KN-04-12 cho ăn 4kg/1kg cá/ngày dùng 3 -6 ngày liên tục. Vitamin C phòng bệnh xuất huyết, liều dùng thường xuyên 20-30mg/1kg cá/ngày, liên tục trong 7-10 ngày.
Bệnh viêm ruột
Tác nhân gây bệnh: Vi khuẩn Aeromonas hydrophila, Gram âm.
Dấu hiệu bệnh lý: Tương tự bệnh xuất huyết do cầu khuẩn Streptococcus sp. Bệnh tích điển hình: ruột trương to, chứa đầy hơi.
Phân bố và lan truyền bệnh: Thường gặp ở cá rô phi nuôi thương phẩm và cá bố mẹ nuôi sinh sản khi môi trường bị ô nhiễm, đặc biệt là thức ăn không đảm bảo chất lượng, tỷ lệ nhiễm bệnh thấp.
Phòng trị bệnh: Dùng một số kháng sinh cho cá ăn như Erythromyxin hoặc Oxytetramyxin, liều dùng 10-12g/100kg cá/ngày đầu, từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 7 liều dùng bằng 1/2 ngày đầu.
Nguồn: Kinh tế V.A.C, số 39, 25/9/2006, tr 9







