Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 25/04/2011 19:51 (GMT+7)

Phòng thí nghiệm Curie

Nghiên cứu về đặc tính của các chất phóng xạ

Sau phát hiện ban đầu của Becquerel về hiện tượng phóng xạ của urani vào năm 1896-1897, khám phá ra radi và poloni của Pierre Curie và Mari Curie vào năm 1898, các nghiên cứu về các chất phóng xạ diễn ra mạnh mẽ. Các công bố về chủ đề này không ngừng tăng lên. Trong những năm 1920, cộng động nghiên cứu phóng xạ tổ chức hoạt động xung quanh mạng lưới các phòng thí nghiệm quan trọng gồm Viện nghiên cứu Radi của Marie Curie, Viện nghiện cứu của Stefan Meyer ở Vienne, phòng thí nghiệm Cavendish ở Cambridge do Rutherford đứng đầu, và phòng thí nghiệm hóa học Berlin dưới sự điều hành của Otto Hahn và Lise Meitner. Những phòng thí nghiệm này có cách tiếp cận và tiến hành thực nghiệm theo cách khác nhau. Ví dụ như tại Cavendish, các nhà khoa học chủ yếu nghiên cứu những thay đổi của chất phóng xạ về mặt vật lý, các cơ chế và các sản phẩm của quá trình phân rã. Còn ở Berlin các nhà khoa học lại rất thành công trong việc xác định những chất phóng xạ mới và nghiên cứu tính chất vật lý của chúng.

Tại Pháp, phòng thí nghiệm của Marie Curie do trường Đại học Paris và Viện Pasteur thành lập, là phòng thí nghiệm giữ vai trò đặc biệt quan trọng cả về thành tích khoa học lẫn số lượng nhà nghiên cứu. Bà cùng các đồng nghiệp nghiên cứu đặc tính lý hóa của các chất phóng xạ và những ứng dụng của các chất này trong y học. Khi Marie Curie tới làm việc tại phòng thí nghiệm này, bà đã là một nhà khoa học nổi tiếng. Trước đó, bà bắt đầu sự nghiệp trong một nhà kho cũ kỹ của trường vật lý và hóa công nghiệp của Paris (EPCI), nơi Pierre Curie là giáo sư. Chính tại nhà kho ở phố Lhomond này mà vợ chồng Curie năm 1898 đã phát hiện ra poloni và radi.

Liên kết với công nghiệp

Hai lần nhận giải Nobel

Marie Curie hai lần nhận giải Nobel: Nobel Vật lý năm 1903 cùng với Henri Becquerel và Pierre Curie và Nobel Hóa học năm 1911. Một số nhà khoa học khác cũng hai lần được trao giải Nobel như Linus Pauling được trao giải Nobel vật lý năm 1954 và Nobel Hòa bình năm 1962, hay John Bardeen giải Nobel vật lý năm 1956 và 1972. Marie Curie là người phụ nữ của những cái đầu tiên: nữ tiến sĩ vật lý đầu tiên tại Pháp, nữ giáo sư đầu tiên của Sorbonne vào năm 1906. Mặc dù đạt được nhiều thành tích, cánh cửa của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp vẫn đóng đối với bà. Hồ sơ xin gia nhập của bà vào năm 1911 đã làm dấy lên cuộc tranh cãi về vị trí của phụ nữ trong khoa học tại 5 viện thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học. Cho tới năm 1979, nhà vật lý và toán học Yvonne Choquet Bruhat trở thành nữ viện sĩ đầu tiên của Viện Hàn lâm Khoa học.

Từ rất sớm, phòng thí nghiệm Curie đã tham gia vào việc tách, xác định tính chất hóa học của các chất phóng xạ và tìm các nguồn cung cấp chất phóng xạ. Năm 1898, vợ chồng Curie gặp phải trở ngại: poloni và radi mà họ muốn tách ra từ quặng pechblende chỉ tìm thấy một lượng rất nhỏ. Vì vậy, để có được số lượng radi đủ dùng, họ phải xử lý lượng quặng lớn hơn. Do không gian của phòng thí nghiệm không đủ, họ đã phải nhờ tới Hiệp hội các sản phẩm hóa chất, nơi đã bắt đầu thương mại hóa các dụng cụ đo phóng xạ của Pierre Curie.

Andre Debierne, một cựu học sinh của EPCI và sinh viên dự bị của khoa Khoa học đã đưa những phương pháp tách radi do vợ chồng Curie phát triển vào sản xuất công nghiệp. Nhờ có ứng dụng này, Marie Curie vào năm 1902 đã tách thành công lượng radi đủ để xác định trọng lượng nguyên tử của nguyên tố này.

Mối quan hệ của vợ chồng Curie với bên công nghiệp không chỉ dừng lại ở đây. Từ năm 1904, bà đã hợp tác thường xuyên với Armet de Lisle, một nhà hóa công nghiệp. Sau khi tham khảo ý kiến vợ chồng Curie, ông này đã thành lập tại Nogent sur Marne nhà máy đầu tiên thương mại các sản phẩm phóng xạ, đặt tên là Muối radi (Sels de radium). Pierre và Marie Curie nhiều lần đưa ra lời khuyên cho ông về các phương pháp tách quặng pechblende.

Marie Curie còn thiết lập mối quan hệ với những nhà máy radi khác ở Pháp. Mối quan hệ cũng khá dễ dàng vì nhiều cộng sự của vợ chồng Curie tham gia trực tiếp vào hoạt động công nghiệp, như Jacques Danne, một cộng sự của Pierre Curie, vào năm 1912 cùng với anh trai đã thành lập Hiệp hội radi công nghiệp tại Gif sur Yvette.

Do đắt và hiếm, radi không bao giờ đủ cho nhu cầu của các nhóm nghiên cứu. Nhiều nhóm đã phải nhờ cậy tới phòng thí nghiệm của Curie chuyên tập trung trong lĩnh vực tinh chế. Bà là chuyên gia hàng đầu trong việc tách các chất phóng xạ và đưa phòng thí nghiệm của mình lên vị trí hàng đầu trong tất cả những gì liên quan tới hoạt chất phóng xạ và các ứng dụng của nó.

Đo lường phóng xạ

Phòng thí nghiệm Curie phát triển những dụng cụ và kỹ thuật đo sử dụng tại Pháp trong tất cả các lĩnh vực liên quan tới phóng xạ. Các nhà công nghiệp, khoáng sản và những nhà ứng dụng radi vào chữa bệnh đều phải sử dụng tới các phương pháp phát hiện và đánh giá tia phóng xạ do vợ chồng Curie phát triển.

Tại Pháp nghiệm điện đầu tiên được sử dụng để đo phóng xạ đã được Pierre Curie hoàn thiện vào năm 1900. Tại đại hội về điện và phóng xạ ở Bruxelles, một ủy ban được thành lập để xem xét vấn đề về đo lường đã giao cho Marie Curie thực hiện mẫu đo phóng xạ quốc tế. Các thành viên của Ủy ban cũng đã định ra các quy tắc của hệ thống đo lường và đặt tên cho đơn vị đo xạ khí là “curie”.

Từ khi bắt đầu hoạt động, phòng thí nghiệm của Curie đã nhận được nhu cầu rất lớn từ bên ngoài. Từ việc kiểm tra các muối radi thương mại cho tới các thiết bị dùng trong xạ trị, Marie Curie đáp ứng tất cả những yêu cầu này. Vào cuối năm 1911 bà đã thành lập dịch vụ đo lường trả tiền. Nhưng ngay sau đó đụng chạm với những nguyên tắc của trường đại học là không cho phép các giáo sư thu lợi ích từ các mối quan hệ cá nhân với giới công nghiệp.

Dịch vụ trả tiền của phòng thí nghiệm Curie hoạt động không phép trong 2 năm. Sau đó Marie Curie đã giành được thắng lợi: hiệu trưởng trường đại học đã đồng ý cho bà duy trì dịch vụ này với điều kiện trường đại học kiểm tra tài chính. Nhân viên của phòng thí nghiệm, chủ yếu là phụ nữ, được trả tiền theo đơn đặt hàng. Bộ phận này đã trở thành một phần của phòng thí nghiệm quốc gia về đo lường được thế giới biết đến.

100.000 USD (tương đương với 1 triệu euros ngày nay) là giá của 1 gram radi vào năm 1921. Radi đắt là do khó tách từ quặng urani: cần phải khoảng 10 tấn pechblende mới tách được 1 gram radi. Trong khoảng 1912-1922, Mỹ chỉ tách được 170 gram radi. Nhờ phát hiện ra các mỏ quặng ở Congo, hiệp hội khoáng sản đã cung cấp radi cho thị trường với giá rẻ hơn là 70.000 USD/gram. Sau đại chiến thế giới II, nhu cầu sử dụng radi trong y tế và công nghiệp giảm sút, do vậy giá radi rớt xuống còn 25.000 USD/gram.


Ứng dụng trong y học

Phòng thí nghiệm Curie duy trì các mối quan hệ với cộng đồng y học từ rất sớm. Năm 1901, Pierre Curie đã hợp tác với bác sĩ Henri Danlos tại bệnh viện Saint Louis, Paris, để thử nghiệm phương pháp chữa trị các căn bệnh về da và ung thư nhờ đặc tính của các chất phóng xạ. Tại Viện Radi thành lập năm 1913 do Marie Curie làm giám đốc cũng có hướng nghiên cứu ứng dụng chất phóng xạ trong lĩnh vực sinh học và y tế do bác sĩ Claudius Regaud phụ trách.

Năm 1916, Marie Curie đã cùng nghiên cứu tạo ra đèn khí radon để chữa các vết thương cung cấp cho quân y và các bệnh viện dân sự. Việc sử dụng radi trong lĩnh vực y tế phát triển mạnh mẽ trong những năm 1910-1920. Tuy nhiên, dần dần, người ta nhận ra sự nguy hiểm của các tia phóng xạ. Vào năm 1934, Bộ Lao động Pháp đã xếp những bệnh liên quan tới sản xuất muối radi trong danh sách các bệnh nghề nghiệp. Cách chữa trị này, do vậy, đã không được phổ biến, thậm chí đã bị loại bỏ do tính chất nguy hiểm của radi. Từ những năm 1950, phương pháp xạ trị lại hồi sinh với việc chiếu xạ ở khoảng cách xa và sử dụng các tia phóng xạ nhân tạo.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.