Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 19/08/2011 20:32 (GMT+7)

Phát triển bền vững thông qua chỉ số tổng hạnh phúc quốc gia

Trong bài phát biểu “Scindia Memorial Lecture” của mình tại Delhi, ngài Jigme Khesar Namgyel Wangchuck, quốc ương Bhutan, đã nói rằng trong một thế giới có nhiều thay đổi, nhu cầu cần phải có các giá trị trở nên thiết yếu và cấp bách hơn bao giờ hết. Và chỉ bằng cách chia nhỏ mọi thứ, đưa chúng trở về bản chất ban đầu cùng với những bước sơ khai của nhân loại, chúng ta mới có thể đương đầu với những vấn đề lớn như suy thoái môi trường, khủng bố và đói nghèo: “Có lẽ giá trị đầu tiên là ý thức về một hành tinh chung, đó là một trái đất của chúng ta, của mọi người, không phải chỉ của một vài chính quyền hay quốc gia. Điều này nghe có vẻ thiếu thực tế, nhưng đó là cách tự nhiên và thiết thực nhằm đạt được những vấn đề tưởng chừng như khó khăn, hóc búa nhất. Chúng ta, đặc biệt là những nhà lãnh đạo phải luôn ghi nhớ hình ảnh về một hành tinh chung. Mỗi người sẽ cố gắng tích lũy tài sản thừa kế và trao lại cho con cháu mình, đó chẳng phải lẽ tự nhiên sao?. “Nếu chúng ta không nhận thấy trách nhiệm này, chúng ta sẽ không ngừng ăn cắp tài nguyên của hành tinh này và của chính con cháu chúng ta. Chúng ta phải nhớ không được vắt cạn kiệt nguồn tài nguyên thuộc về thế hệ sau. Khi chúng ta thừa nhận rằng trái đất này là của tất cả mọi người, mọi gia đình, của mọi cộng đồng, mọi quốc gia cùng chung những thử thách, của loài người đang chung một mục đích, khi đó chúng ta sẽ thực sự chung tay xây dựng một thế giới phồn thịnh, an bình và hạnh phúc.

Về vấn đề phát triển bền vững, “Dấu chân sinh thái” là một biện pháp tốt nhất khiến ý tưởng về phát triển bền vững trở thành một khái niệm cụ thể có thể đo lường. Chính vì vậy, thật đáng khích lệ khi thấy cả thế giới đang nỗ lực phát triển các phương án thay thế để dùng trong tương lai. Trong đó, có lẽ phân tích dấu chân sinh thái là biện pháp toàn diện nhất nhằm kiểm tra và xác định trữ lượng sinh thái hay tính bền vững của các hoạt động phát triển.

Sử dụng khoảng 5.000 điểm dữ liệu cho mỗi quốc gia hàng năm để xây dựng báo cáo thường niên về dấu chân toàn cầu mang tên Báo Cáo Sự Sống Hành Tinh (Living Planet Report), Dấu chân Sinh thái so sánh trữ lượng sinh thái, bao gồm các nguồn tài nguyên như diện tích đất trồng, rừng, đất chăn nuôi, mặt nước nuôi trồng thủy sản, diện tích đất cần để hấp thụ khí CO2 và nguồn tài nguyên của con người đã sử dụng hay nhu cầu tài nguyên của con người theo đơn vị hecta trên đầu người trong một năm.

Theo phân tích này, từ những năm 1960, Dấu chân Sinh thái toàn cầu đã xấp xỉ bằng một nửa khả năng tái sinh của trái đất. Giữa thập niên 1980, dấu chân sinh thái đã vượt ngưỡng cho phép. Đến năm 2005, nhu cầu sử dụng tài nguyên của con người đã vượt quá lượng tài nguyên trái đất có thể cung cấp 30%. Điều đó có nghĩa rằng, thế hệ chúng ta đã sử dụng hết phần tài nguyên trên trái đất của mình và bắt đầu chiếm phần tài nguyên của các thế hệ sau cũng như lấy đi cơ hội sống của họ. Báo Cáo Sức Sống Hành Tinh năm 2008 đã chỉ ra rằng nếu chúng ta tiếp tục sử dụng tài nguyên như hiện nay, chỉ đến đầu những năm 2030 chúng ta sẽ cần hai hành tinh để đáp ứng nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của loài người.

Phát triển bền vững, được thể hiện qua dấu chân sinh thái, là một mô hình về sự cân bằng giữa nguồn cung và nhu cầu đối với tài nguyên. Phát triển bền vững cũng là sự công bằng giữa các thế hệ trên phương diện phân bố tài nguyên. Tuy nhiên phát triển bền vững, ít nhất là về mặt thuật ngữ, không chính thức giải đáp trực tiếp câu hỏi điều gì khiến con người cảm giác đầy đủ, mà mức độ cao nhất chính là hạnh phúc.

Tại Bhutan hạnh phúc là mục đích của sự phát triển. Chính vì thế, khái niệm Chỉ số Tổng Hạnh phúc Quốc Dân đã trở thành kim chỉ nam cho Bhutan trong nhiều thập kỉ vừa qua. Thậm chí hiến pháp của Bhutan yêu cầu nhà nước có trách nhiệm phát triển Tổng Hạnh phúc Quốc Dân như một ưu tiên hàng đầu trong chính sách và kế hoạch công. Theo đó, chính phủ hoàng gia đã thực hiện trách nhiệm này thông qua một kế hoạch gồm 4 điểm được biết đến như bốn nội dung chính của Tổng Hạnh phúc Quốc Dân. Tất cả các chính sách và chương trình phát triển của đất nước đều phải nhằm củng cố bốn nội dung chính này.

Đó là:

1. Phát triển kinh tế xã hội công bằng và bền vững;

2. Bảo tồn môi trường;

3. Bảo tồn và phát triển văn hóa, và

4. Phát triển quản lý minh bạch.

Các lĩnh vực được chọn dựa trên các quy chuẩn và được coi trọng như nhau vì các lĩnh vực có tầm quan trọng ngang nhau đối với Chỉ số Tổng Hạnh phúc Quốc Dân. Các thành tố và lĩnh vực của Tổng Hạnh phúc Quốc Dân có thể áp dụng cho tất cả các quốc gia kèm theo một vài thay đổi về văn hóa.

Việc sử dụng thời gian cũng chiếm vị trí khá quan trọng trong việc xác định chất lượng cuộc sống. Nó giúp phân tích bản chất của việc sử dụng thời gian trong giới hạn 24 giờ/ 1 ngày cùng với các hoạt động thường xuyên diễn ra trong một khoảng thời gian dài. Một chức năng quan trọng của việc theo dõi thời gian được sử dụng là để xác định tầm quan trọng của khoảng thời gian “không làm việc” đó trong việc tạo ra trạng thái hạnh phúc của con người. Thời gian dành cho những hoạt động “không làm việc” như ngủ, chăm sóc bản thân, tham gia các hoạt động xã hội, giáo dục, học tập, tôn giáo, văn hóa, thể thao và giải trí đã trực tiếp góp phần tạo ra sự đa dạng của vác hoạt động để làm giàu thêm cuộc sống, và góp phần vào quá trình xây dựng trạng thái hạnh phúc của con người. Việc xây dựng được thời gian con người dành cho các hoạt động phi lợi nhuận như chăm sóc trẻ em hay các thành viên bị bệnh trong các gia đình, sửa chữa nhà cửa… cũng là một thước đo tin cậy để đánh giá sự đóng góp vào “chỉ số hạnh phúc”, mặc dù rõ ràng nó đã bị đánh giá thấp trong tài khoản quốc gia. Trong Chỉ số Tổng Hạnh phúc Quốc Dân, thành phần thời gian sử dụng được chia thành các chỉ số tiêu chuẩn bao gồm tổng số giờ ngủ và tổng số giờ làm việc. Nếu tổng số giờ làm việc lớn hơn 7 tiếng đồng hồ, con người sẽ cảm thấy ít hạnh phúc hơn và tương tự như vậy nếu tổng số giờ ngủ ít hơn 8 tiếng đồng hồ, con người cũng sẽ ít cảm thấy hạnh phúc hơn.

Tiêu chí “Tiêu chuẩn cuộc sống” chính là vấn đề về tình trạng kinh tế cơ bản của con người. Các chỉ số sẽ đánh giá mức thu nhập của từng cá nhân và hộ gia đình, vấn đề bảo mật tài chính, số lượng phòng trong nhà, an toàn thực phẩm, và quyền sở hữu nhà. Các chỉ số cũng được xây dựng từ những khó khăn về kinh tế như thiếu chi phí để sửa chữa nhà ở, không có khả năng đóng góp cho các hoạt động cộng đồng, và phải mua quần áo cũ. Các chỉ số về Tiêu chuẩn cuộc sống (bao gồm chỉ số về thu nhập, chỉ số về nhà ở, chỉ số về độ an toàn thực phẩm và chỉ số về sự khó khăn sẽ gặp phải) sẽ được sử dụng trong các doanh nghiệp để đánh giá tình trạng kinh tế của nhân viên. Tiêu chuẩn cuộc sống là một yếu tố quyết định của cuộc sống hạnh phúc, và hiển nhiên là việc nâng cao tiêu chuẩn cuộc sống chính là yếu tố quan trọng trong các kế hoạch và chương trình hành động của các nước đang phát triển cũng như các nước phát triển. Sau khi đạt đến một mức độ thu nhập ổn định, việc tăng thu nhập không còn là vấn đề của tiêu chuẩn cuộc sống nữa, nhưng nếu mức thu nhập đó giảm xuống thì nó lại trở thành một vấn đề khá quan trọng trong việc đánh giá tiêu chuẩn cuộc sống. Vì vậy, điều đó vô cùng quan trọng đối với một tổ chức để có thể đảm bảo cho nhân viên của mình có một tiêu chuẩn cuộc sống ổn định.

Các chỉ số sức khỏe đánh giá tình trạng sức khỏe của con người, là yếu tố quyết định của sức khỏe và cả hệ thống y tế của đất nước. Các chỉ số của nó bao gồm chỉ số về tình trạng sức khỏe, chỉ số kiến thức về sức khỏe và rào cản đối với chỉ số sức khỏe.

“Giáo dục” bao gồm kiến thức, giá trị, sáng tạo, kỹ năng và tri thức của con người. Nó không hướng tới đo lường hiệu quả truyền thống của giáo dục mà nhằm mục đích tìm sự sáng tạo và kỹ năng của người công dân.

Trong 72 chỉ số để xác định tình trựng của mỗi người có thể được tổng hợp vào một chỉ số duy nhất để có thể đánh giá một cách trung thực và đáng tin cậy hơn về sự tiến bộ và hạnh phúc của một quốc gia. Giá trị chính xác có thể được xác định sau này. Tính bền vững, theo như Chỉ số Tổng Hạnh phúc Quốc gia, thừa nhận một định nghĩa rộng hơn và có cấu trúc bao gồm hệ sinh thái, văn hóa, xã hội, tâm lý và chính trị cùng với sự phát triển kinh tế.

Chúng ta đang trong quá trình xây dựng chính sách để yêu cầu ngành xây dựng sử dụng công nghệ xanh bền vững. Đồng thời, một nghị định đã được ban hành nhằm tăng cường vác chương trình giảng dạy nâng cao hiểu biết của sinh viên về hệ sinh thái trong các trường học xanh và “không chất thải”.

Cho đến nay, Bhutan là một ví dụ điển hình. Đang cố gắng duy trì diện tích bao phủ rừng rộng lớn bằng nguồn kinh phí phát triển. Các chính sách phát triển bền vững cân đối đã đem lại những kết quả tích cực.

Năm 2007, Quốc Vương Bhutan đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cố gắng đạt được các mục tiêu và khát vọng chung của loài người. Tuy nhiên, Bhutan và chính phủ của mình không muốn là đất nước duy nhất độc hành trên con đường này. Bhutan muốn chia sẻ sự thông thái và sáng suốt mà lý thuyết này đem lại cho thế giới trong việc duy trì bền vững các nguồn tài nguyên của trái đất để đảm bảo cuộc sống và hạnh phúc của thế hệ tương lai.

“Qua con đường theo đuổi mục tiêu đó, chúng ta sẽ tìm ra lý do và nhân tài để kiềm chế và dung hòa các tham vọng vật chất khác biệt của chính ta với các nhu cầu quan trọng ngang nhau của con người và những hạn chế của thiên nhiên. Đó là điều sẽ làm cho cuộc sống trên Trái đất trở nên bền vững. Con đường mà các nước theo đuổi để đạt được mục tiêu này sẽ là thước đo sự nỗ lực của quốc gia đó nhằm đem lại sự hạnh phúc thực sự cho công dân của mình. Ngay từ bây giờ, tất cả mọi người nên tận dụng mọi thời gian và cơ hội để đạt được mục tiêu cuối cùng đó thông qua chính sách công, các kế hoạch và chương trình”.

Làm thế nào để đem lại hạnh phúc bền vững cho mọi người – bao gồm sự giàu có về vật chất và sức khỏe, sự bảo vệ môi trường, sự phát triển văn hóa và tâm linh – là vấn đề chung của mọi quốc gia. Mặc dù không có một công thức thần kỳ nào để đạt được Chỉ số Tổng Hạnh phúc Quốc Dân hay sự phát triển bền vững phù hợp với những thay đổi trầm trọng trong thách thức cũng như những truyền thống lâu đời của đạo Phật tại Bhutan, chúng tôi vẫn tìm được một qui trình chủ động và quan trọng trong các cân nhắc của quốc gia. Hôm nay, chúng ta hãy tiếp tục hành động để cứu lấy Trái đất và các nguồn tài nguyên thiên nhiên để đem lại cuộc sống hạnh phúc cho các thế hệ mai sau.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.