Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 17/12/2010 22:00 (GMT+7)

Phát triển bền vững tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu

Việt Nam là một nước có nguồn Tài nguyên nước vào loại trung bình trên thế giới có nhiều yếu tố không bền vững

Nước ta có khoảng 830 tỷ m3 nước mặt trong đó chỉ 310 tỷ m3 được tạo ra do mưa rơi trong lãnh thổ Việt Nam chiếm 37% còn 63% do lượng mưa ngoài lãnh thổ chảy vào. Tổng trữ lượng tiềm tàng khả năng khai thác nước dưới đất chưa kể phần hải đảo ước tính khoảng 60 tỷ m3/năm. Nếu kể cả nước mặt và nước dưới đất sản phẩm ra trên phạm vi lãnh thổ thì bình quân đầu người đạt 4400 m3/người, năm (Thế giới 7400 m3/người, năm). Nếu kể cả lượng nước từ các lảnh thổ nước ngoài chảy vào thì Việt Nam trung bình đạt khoảng 10.600 m3/người, năm).

Các yếu tố không bền vững của Tài nguyên nước Việt Nam

Lượng nước sản sinh từ ngoài lãnh thổ chiếm xấp xỉ 2/3 tổng lượng nước có được, rất khó chủ động, thậm chí không sử dụng được. Sự phân bố của cả nước có được, rất khó chủ động, thậm chí không sử dụng được. Sự phân bố của cả nước mặt lẫn nước dưới đất rất không đều. Trong số 13 lưu vực sông chính và nhánh có diện tích lớn hơn 10.000 km2 thì có đến 10/13 là sông liên quốc gia, vì vậy không thuận lợi trong sử dụng và khai thác.

Tài nguyên nước Việt Nam có xu thế suy thoái do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu

Nhiệt độ không khí có xu thế ngày một tăng lên đã được khẳng định. Kịch bản có thể chấp nhận là đến năm 2070, ở các vùng ven biển có khả năng tăm thêm +1,5 0C, vùng nội địa +2,5 0C. Chúng kéo theo lượng tăng bốc thoát hơi lên khoảng 7,7 - 8,4%, nhu cầu nước tưới tăng lên, lượng dòng chảy nước mặt sẽ giảm đi tương ứng khi lượng mưa không đổi.

Bão, ElNino và LaNina làm tăng thêm tính cực đoan của thời tiết. Hậu quả là làm tăng thêm tính cực đoan của lượng dòng chảy trong năm trên các dòng sông. Vào các năm LaNina, số lượng bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) ảnh hưởng đến thời tiết nước ta nhiều hơn so với các năm ElNino. Nếu kèm theo ảnh hưởng không khí lạnh thì các năm này thường xảy ra những trận lụt lớn kéo dài, diện rộng. Vào các năm ElNino, số lượng bão và ATNĐ ảnh hưởng đến nước ta ít song cũng có những cơn có cường độ rất mạnh gây thiệt hại nghiêm trọng. Nói chung ở Việt Nam bão có xu thế ngày càng tăng cả cường độ lẫn tần số. Tần suất bão đổ bộ vào vùng ven biển phía Bắc và ven biển Trung bộ có xu hướng chuyển dịch lẫn nhau theo từng thời kỳ. Trong những năm gần đây bão có xu thế đổ bộ vào vùng ven biển miền Trung nhiều hơn, đặc biệt là vùng ven biển Cực Nam Trung bộ.

ElNino gắn liền với việc gây hạn hán rất nặng nề ở nước ta. Những năm có ElNino, lượng mưa và lượng dòng chảy trong sông đặc biệt là trong mùa cạn thường bị giảm mạnh, thậm chí không có dòng chảy như sông Lòng Sông (Bình Thuận), sông KrongBuk (Đăk Lăk), sông Hà Thanh (Bình Định)…

Mực nước biển dâng lên trung bình 2 mm/năm, nước mặn xâm nhập sâu vào trong sông, độ mặn nước mặt và nước ngầm đều tăng cao, ảnh hưởng lớn đến việc cấp và thoát nước, suy thoái nước. Hơn nữa, theo dự báo, đến năm 2100 mực nước biển có khả năng dâng lên 1,0 m, Việt Nam bị ngập vĩnh viễn khoảng 14520 km2 (hơn 12376 km2 thuộc 12 tỉnh ĐBSCL). 39 tỉnh trong 64 tỉnh, thành và 6 trong 8 vùng kinh tế của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng. Điều đó càng làm suy giảm nghiêm trọng tài nguyên nước. Do hạn hán kéo dài, lượng nước trong sông cạn kiệt không đủ khả năng pha loãng làm nước trong sông ngày càng bị ô nhiễm, suy thoái.

Tài nguyên nước Việt Nam có xu thế suy thoái do phát triển và sử dụng thiếu hợp lý, thiếu đồng bộ.

Phát triển KTXH có liên quan đến phát triển khí nhà kính. Sự phát triển dân số kéo theo sự phát triển diện tích trồng lúa và sản lượng thóc. Năm 1943 độ che phủ của rừng là 43%, đến nay độ che phủ rừng còn đạt khoảng 35% song chất lượng rừng thứ sinh, rừng thoái hóa, rừng trồng…

Phát triển và sử dụng tài nguyên nước thiếu hợp lý, thiếu đồng bộ: Bịt cửa các phân lưu để khai thác các bãi sông trong đê sử dụng cho mục đích nông nghiệp. Năm 1900, bịt cửa sông Cà Lồ là phân lưu tự nhiên của sông Hồng - sông Cà Lồ trở thành một nhánh của sông Cầu - sông chứa nước mưa, nước thải ô nhiễm các chất hữu cơ, dầu mỡ. Năm 1937 bịt sông Đáy bằng Đập Đáy, sông Đáy trở thành khúc sông chết (từ Đập Đáy đến Ba Thá). Năm 1967, bịt cửa Đáy bằng cống Vân Cốc và Đê Cửa Hát để khai thác bụng hồ Vân Cốc - Đập Đáy. Hiện nay sông Đáy - sông Nhuệ trở thành con sông tiêu nước thải, nước bẩn từ các đô thị lớn Hà Nội, Hà Tây.

Các sông nhỏ trong nội đô của các thành phố bị ô nhiễm nặng do nước thải sinh hoạt, công nghiệp. Suối Phượng Hoàng chảy trong thành phố Thái Nguyên, bị ô nhiễm chất hữu cơ nghiêm trọng do nước thải của nhà máy sản xuất Giấy Đế. Các sông Tô Lịch, sông Sét, Kim Ngưu… chảy trong nội thành Hà Nội bị ô nhiễm trực tiếp đổ vào sông Nhuệ. Các kênh sông Nhiêu Lộc - Thị Nghè kênh Tàu Hũ, kênh Tân Hòa - Lò Gốm, kênh Tham Lương, kênh Đôi - Tẻ và các kênh rạch khác chảy trong nội đô thành phố Hồ Chí Minh đổ trực tiếp vào sông Sài Gòn gây ô nhiễm nghiêm trọng.

Xây dựng đập dâng sử dụng hết lượng nước cơ bản tạo ra khúc sông “khô” dưới đập. Các đập dâng thủy lợi như đập Thạch Nham trên sông Trà Khúc, đập Lại Giang trên sông Đại Giang, đập Đồng Cam trên sông Đà Rằng, đập Nha Trịnh - Lâm Cấm trên sông Cái Nha Trang… 30 năm trước đây về mùa khô vẫn có nước trà qua đập. Vài chục năm gần đây, do tăng diện tích tưới, tăng lượng nước cấp cho sinh hoạt, công nghiệp, mặt khác do rừng đầu nguồn bị phá nặng nề nên mùa khô là hạ lưu hết nước, có năm kéo dài vài ba tháng nếu không có mưa. Vùng hạ lưu các đập dâng này có nhiều cư dân sinh sống ven sông và trên sông, tác động này rất đáng kể.

Khai thác quá mức, thiếu qui hoạch, kế hoạch đồng bộ. Khai thác nước ngầm quá mức gây ô nhiễm trầm trọng ở Đăk Lăk, Ninh Thuận và Bình Thuận, đòi hỏi phải có biện pháp bổ cập. Theo quy hoạch về nguồn nước, đến năm 2010 đáp ứng yêu cầu cấp nước tưới cho 5 tỉnh Tây Nguyên là 80.000 ha cà phê. Đến năm 2000 riêng tỉnh Đăk Lăk (cũ) đã trồng được 260.000 ha cà phê. Hậu quả là không đủ nước tưới hàng chục ngàn ha cà phê chết.

Giải pháp phát triển bền vững Tài nguyên nước Việt Nam

Một là, hạn chế và giảm thiểu suy thoái tài nguyên nước do biến đổi khí hậu toàn cầu.

Giảm nhẹ khí nhà kính theo kế hoạch hành động của Quốc gia.

Từ 1994 - 2020, xây dựng thêm khoảng 70 hồ chứa thủy lợi, thủy điện có V hi> 10 triệu m3 vớiSV tb> 50 tỷ m3,SV hi> 33 tỷ m3, trong đó có 46 hồ chứa với V hi>= 400 triệu m3.

Cải thiện, nâng cấp và mở rộng các hệ thống thoát lũ, tiêu úng. Nâng cấp các hệ thống cũ. Qui hoạch xây dựng bổ sung hệ thống tiêu mới, độc lập với tưới, cấp nước. Thực hiện nghiêm chỉnh Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ Môi trường, Đê điều… bảo đảm thoát lũ, bảo vệ bờ sông, chỉnh trị lòng sông, cửa sông thông thoát lũ…

Nâng cấp đê biển, đê cửa sông đi đôi với phát triển và bảo vệ rừng ngập mặn. Quy hoạch và xây dựng mới các hệ thống đê biển ở Nam Trung bộ và Nam bộ. Củng cố bồi trúc đê sông đảm bảo an toàn đê với mực nước thiết kế đã quy định.

Hai là, hạn chế và giảm thiểu suy thoái tài nguyên nước do phát triển, sử dụng tài nguyên nước không hợp lý.

Tiết kiệm nước tưới; giảm tổn thất nước bằng hình thức cứng hóa kênh mương, nâng cấp công trình đầu mối, nâng cao hiệu quả quản lý; Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi có nhu cầu sử dụng nước thấp; Phòng chống ô nhiễm nước.

Nâng cao hiệu quả tái sử dụng nước; Xây dựng hệ thống xử lý nước thải; Phòng chống ô nhiễm nguồn nước.

Khai thác sử dụng nguồn nước đi đôi với bảo vệ nguồn nước, bảo đảm duy trì dòng chảy môi trường cho sông: Bảo vệ và phát triển hệ sinh thái thủy sinh; Pháp lý hóa nội dung đảm bảo dòng chảy môi trường trong qui hoạch, thiết kế vận hành các hồ chứa nước thủy lợi, thủy điện và đập dâng; có kế hoạch biện pháp bổ cập nước ngầm những vùng khai thác quá mức, phòng chống hoang mạc hóa.

Đầu tư nghiên cứu kiểm kê đánh giá và qui hoạch dự báo dài hạn tài nguyên nước. Dự báo, cảnh báo theo mùa, năm và nhiều năm về nguồn nước, thiên tai lũ lụt, hạn hán đi kèm với hiện tượng LaNina, ElNino… để có kế hoạch sử dụng hợp lý và an toàn nguồn nước, tiến tới quản lý được lũ và quản lý được hạn…

Thực hiện đầy đủ Luật bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên nước, Luật Đê điều, chiến lược quốc gia về Tài nguyên nước đến năm 2020 và các Nghị định, Quy định của Chính phủ có liên quan. Tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng tham gia quản lý và bảo vệ môi trường nước. Cải tạo, khôi phục có kiểm soát các dòng sông bị ô nhiễm, bị tù như sông Đáy, sông Nhuệ, sông Cầu, sông Sài Gòn và các sông, kênh nội đô.

Ba là,hạn chế và giảm thiểu suy thoái tài nguyên nước bằng quản lý, tổ chức và pháp luật; Nhà nước sớm ban hành đầy đủ đồng bộ những văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ và Môi trường và các luật có liên quan đến tài nguyên nước. Sửa đổi Luật Tài nguyên nước phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiện nay.

Thống nhất cơ quan quản lý Tài nguyên nước thông suốt từ Trung ương đến Địa phương và sớm thành lập các Tổ chức quản lý lưu vực sông có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, hoạt động có hiệu quả, do “người trong lưu vực sông” tự quản có sự hỗ trợ của Trung ương. Nhà nước nên có cơ chế, chính sách để người dân, các tổ chức tham gia bảo vệ Tài nguyên nước, bảo vệ môi trường nước, ngay từ khi lập qui hoạch xây dựng đến khai thác sử dụng và bảo vệ. Ban hành văn bản qui định đảm bảo đủ dòng chảy môi trường cho các con sông làm cơ sở cho phát triển bền vững Tài nguyên nước.

Kết luận

1/ Suy thoái tài nguyên nước do biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế xã hội là rõ ràng và đáng kể.

2/ Tác động của biến đổi khí hậu rõ rệt nhất là tăng cao nhiệt độ không khí, kéo theo tăng cao bốc thoát hơi, tăng cao nhu cầu sử dụng nước. Nó làm tăng tần số và cường độ bão đổ bộ vào nước ta, đồng thời làm nước biển dâng lên. Kết hợp với hiện tượng ElNino - LaNina tạo nên thiên tai như lụt bão, hạn hán, lũ quét xâm nhập mặn ngày càng tăng.

3/ Tác động của phát triển kinh tế xã hội đã làm ô nhiễm những đoạn sông, thậm chí cả con sông (nội đô) hoặc tạo ra những con sông chết, khúc sông chết.

4/ Những biện pháp khắc phục này giảm thiểu nói trên chỉ có hiệu quả khi được thực hiện đồng bộ, thống nhất hành động từ Trung ương đến lưu vực - địa phương, từ qui hoạch đến quản lý, đặc biệt là có sự tham sự của cộng đồng.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.