Phát huy nội lực để bảo vệ và khai thác biển Đông
Biển Đông từ lâu được xem là một trong những khu vực chính gây căng thẳng và bất ổn tại Châu á - Thái Bình Dương. Có nhiều nhân tố dẫn đến thực trạng đó. Thứ nhất, vị trí địa chiến lược của biển Đông. Thứ hai, những tranh chấp lãnh thổ đo với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cũng như các tranh chấp vùng biển tại biển Đông. Nhân tố thứ ba, là cuộc chạy đua giành quyền kiểm soát các tài nguyên thiên nhiên trong vùng biển này. Nhân tố thứ tư là sự phát triển của Luật Biển.
Về tình hình biển Đông, trong thập kỷ qua nước ta đã có những tiến bộ nhất định trong nỗ lực hợp tác nhằm kiềm chế căng thẳng và tìm giải pháp hòa bình cho những tranh chấp. Cụ thể là Tuyên bố ASEAN năm 1992 về biển Đông, Tuyên bố vê ứng xử của các bên ở Biển Đông ký năm 2002 giữa ASEAN Trung Quốc - bước đầu tiên trong quá trình tiến tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông - và Thoả thuận thăm dò địa chấn giữa Trung Quốc, Việt Nam và Philippines năm 2005... Tuy nhiên, những tranh chấp về chủ quyền lănh thổ giữa nhiều bên liên quan không hề thuyên giảm. Ngược lại,
những diễn biến gần đây, nhất là các hành động khẳng định chủ quyền về mặt pháp lý, kèm theo đó là những hành vi đơn phương nhằm tăng cường sự kiểm soát thực địa, tranh chấp các nguồn năng lượng và tài nguyên đã làm cho tình hình thêm phức tạp.
Tình hình hiện nay trên biển có những tranh chấp phức tạp, nhưng chúng ta tin tưởng rằng, Việt Nam có đủ điều kiện, khả năng để bảo vệ vững chắc biển đảo của Tổ quốc. Việt Nam sẽ đấu tranh trên cơ sở pháp lý, luật biển quốc tế và những chứng cứ lịch sử. Bằng con đường đấu tranh ngoại giao, pháp lý và bằng thương lượng hòa bình để giữ vững toàn vẹn chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Theo quan điểm của Phó Đô đốc, nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân, trung tướng Đỗ Xuân Công, Phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh TP.HCM: phải thực hiện bằng được chủ trương xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển. Trước mắt, cần tuyên truyền cho toàn dân ta hiểu về vai trò, vị trí của biển và ngày càng thêm yêu biển, đảo của Tổ quốc. Phải xây dựng lực lượng toàn dân, thực hiện bằng đưạc chủ trương xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển và xây dựng lực lượng nòng cốt là lực lượng Hải quân để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Để khai thác và bảo vệ biển, nước ta xác định phải xây dựng thế trận lòng dân, dựa vào sức mạnh của dân. Vấn đề dân sự hóa các đảo đang là việc được quan tâm. Nước ta đang khuyến khích người dân ven biển ra định cư lâu dài ở đảo, kể cả đảo xa. Tiến sĩ Nguyễn Nhã một nhà nghiên cứu biển đông lâu năm cho rằng, việc giải quyết tranh chấp trên biển Đông phải dựa vào nội lực chính của chúng ta. Chúng ta phải đưa đất nước phát triển và có tiếng nói trên trường quốc tế, một đất nước phát triển phải dựa vào : "tri thức - chính trị - quyền lực". Trong tam giác này thì tri thức chiếm vai trò quan trọng nhất. Một đất nước phát triển là đất nước có nên tri thức phát triển, khi tri thức của đất nước phát triển thì kinh tế phát triển sẽ kéo theo nền kinh tế phát triển, từ đó chính trị và quyền lực của đất nước sẽ vững mạnh. Mặt khác phải dựa vào sức mạnh toàn dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ của kiều bào ở khắp nơi trên thế giới của bạn bè yêu chuộng hoà bình trên thế giới.
Tình hình đó đặt ra cho chúng ta cần phải thực hiện một số chrnh sách sau: Sớm đưa dân ra các đảo và vùng đảo thưa dân. Phải đào tạo ngành nghề cho cư dân để ổn định đời sống ở vùng biển đảo, nhất là đánh cá xa bờ, tổ chức những cơ sở sản xuất chế biến những sản phầm biển để tạo nghề nghiệp cho cư dân. Lâu nay, ở vùng biển, đảo, chúng ta chỉ mới biết làm nghề cá, nghề muối theo kinh nghiệm truyền thống, kỹ thuật thủ công, phụ thuộc vào thiên nhiên rất lớn. Do đó, cần phải tổ chức lại nền sản xuất lớn cho phù hợp với từng vùng, phãn bổ lại lao động vì lực lượng sản xuất trước hết là người lao động. Phải đưa khoa học kỹ thuật vào để nâng cao năng suất lao động trong đánh cá và chế biến sản phẩm. Kinh tế biển phải đi từ đất liền, dựa vào vùng ven biển ở đất liền mà phát triển mội cách toàn diện. Thực hiện cơ giới hóa nghề cá, tăng khả năng hoạt động lrên biển, hiện đại hóa việc phát hiện và theo dõi đàn cá, cải tiến kỹ thuật đánh bắt bằng những công cụ và phương pháp hiện đại hơn, giải quyết tốt việc bảo quản, chế biến cá và các hải sản khác. Làm được như vậy thì việc đưa dân cư ra biển thuận lợi hơn cho việc bảo vệ tài nguyên, bảo vệ chủ quyền an ninh ven biển.
Liên kết chặt chẽ giữa 3 tuyến ven biển, đảo và quần đảo, vùng biển tạo thành một thế vững chắc của nên biên phòng toàn dân. Quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân trên vùng biển đảo, bảo vệ chủ quyền an ninh vùng biển, có chỗ dựa và điều kiện thuận lợi để khai thác tiềm năng kinh tế biển và phát triển kinh tế biển.
Vấn đề cơ bản có tính chất quyết định trong công tác bảo vệ chủ quyền an ninh vùng biển - đảo là sức mạnh của lòng dân; và sức mạnh của lòng dân chỉ cô thể xây dựng trên nền kinh tế biển ngày càng phát triển. Đối với ngư dân và tàu thuyền làm ăn trên biển, cần sắp xếp lại khu vực làm ăn trên biển đảo đối với các đội thuyền đánh cá; tổ chức các đội dân quân, tự vệ hoặc các hải đoàn tự vệ đảo, kết hợp được sản xuất trên biển và bảo vệ biển.
Phải có kế hoạch phối hợp giữa bộ đội biên phòng với Hải quân và Cảnh sát biển, cùng các đơn vị dân quân, tự vệ, công an trên biển đảo, phát hiện các tàu thuyền nước ngoài xâm nhập trái phép vùng biển để có kế hoạch đối phó, đấu tranh và xử lý đúng luật theo "Công ước Liên hiệp quốc tế về vùng biển (Unclos) 1982" và "Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam".
Yêu cầu đó đòi hỏi chúng ta phải có nhận thức đúng về biển để đầu tư khai thác tiềm năng của biển. Mặt khác, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng bảo vệ biển, đảo cùng quân dân cả nước bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới vùng biển Việt Nam, chủ động sẵn sàng đối phó với mọi tình huống lấn chiếm biển.








