Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 14/05/2013 22:27 (GMT+7)

Phải thận trọng khi sử dụng tư liệu lịch sử

Hiện nay, theo tôi được biết đang có hiện tượng khá phổ biến là một số cá nhân có tâm huyết, có tiền của, đã đứng ra xây dựng mới các đền, chùa, lăng mộ… để tưởng niệm người xưa, góp phần bảo tồn những di tích lịch sử. Việc làm của họ xuất phát từ động cơ, mục đích đúng đắn, tốt đẹp. Song trong khi làm, có một số người do không hiểu biết đầy đủ, không nghiên cứu kỹ các tư liệu liên quan, không tham khảo ý kiến các nhà khoa học chuyên ngành, hoặc tin vào bói toán, ngoại cảm… nên đã biến việc làm của mình vốn mang ý tưởng tốt đẹp, cao cả, thành tác hại khôn lường cho xã hội và cho hậu thế. Xin đơn cử trường hợp của danh nhân Nguyễn Trung Ngạn (1289 -1370), hiệu Giới Hiên, người đứng đầu kinh đô Thăng Long thời Trần và về sau đã làm tới chức Đại hành khiển (Tể tướng). Các tư liệu lịch sử chính thống cũng như sách vở đã công bố, đều cho biết ông quê gốc ở làng Thiên Thi, nay là xã Thổ Hoàng, thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Ông đỗ Hoàng giáp khi mới 16 tuổi, nổi tiếng là thần đồng và có nhiều công lao với đất nước về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá, ngoại giao… Hiện ở Thổ Hoàng còn có mộ và nhà thờ ông.

Nhưng điều đáng ngạc nhiên là ở Thanh Hoá, tại xã Quý Lộc, huyện Yên Định, lại vừa xây mấy ngôi mộ bằng đá, với tấm biển ghi rõ là mộ danh nhân Nguyễn Trung Ngạn, có tóm tắt cả tiểu sử và cả vợ ông là bà họ Vương. Phải nói, hai ngôi mộ mới xây tại Thanh Hoá đẹp và kì công hơn nhiều so với ngôi mộ ở Thổ Hoàng. Một câu hỏi đặt ra là sao gia đình vị Tể tướng thời Trần lại lên ở tận xã Quý Lộc và mất tại đấy, nơi mà xưa kia còn là rừng xanh cỏ dại?

Năm 2009, tôi may mắn được Ban Tổ chức Hội thảo khoa học về danh nhân văn hoá Nguyễn Trung Ngạn mời tham gia, nên có chủ tâm tìm hiểu xem mối quan hệ của vị danh nhân họ Nguyễn với địa phương Thanh Hoá như thế nào? (1). Theo chính sử cho biết thì Nguyễn Trung Ngạn có giữ chức An phủ sứ Thanh Hoá vào năm Bính Dần, niên hiệu Khai Thái (1326). Đến năm Ất Hợi, niên hiệu Khai Hựu (1335), ông lại được cử giữ chức Phát vận sứ Thanh Hoá, phụ trách vận chuyển binh lương cho Thượng hoàng Trần Minh Tông đánh dẹp giặc dã ở miền Tây Nghệ An… Ông còn để lại hơn trăm bài thơ được người sau sưu tầm, tập hợp lại thành cuốn sách Giới Hiên thi tập, trong đó có ít nhất ba bài viết về Thanh Hoá (2). Ông cũng đã từng công cán ở Nghệ An và lấy một bà vợ ở địa phương này, hiện thấy ghi trong cuốn gia phả dòng họ Nguyễn Công ở làng Bình Thọ, xã Thái Sơn, huyện Đô Lương và hậu duệ, con cháu ngày nay phát triển khá đông đúc (3). Vì thế, lúc đầu chúng tôi cũng đã đặt vấn đề ở Thanh Hoá vị danh nhân họ Nguyễn có thể có một người vợ nữa chăng, nên đã tìm hiểu, nghiên cứu.

Theo một số thông tin cho biết, trước đây gia phả dòng họ Nguyễn ở làng Nguyệt Viên, xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hoá thấy ghi vị tổ là quan Hành khiển thời Trần, nên dòng họ này đã cho người sống bên Pháp tới hỏi ý kiến Giáo sư Hoàng Xuân Hãn. Trong thư trả lời, Giáo sư Hoàng đã viết rằng người họ Nguyễn giữ chức Hành khiển thời Trần theo Đại Việt sử ký toàn thư thì chỉ có cụ Nguyễn Trung Ngạn. Song giáo sư không hề kết luận danh nhân họ Nguyễn đã lấy bà vợ người Thanh Hoá, là vị khởi tổ dòng họ Nguyễn ở Nguyệt Viên, mà chỉ phỏng đoán là ông có vợ ở Nghệ An, thì biết đâu thời gian giữ chức tại Thanh Hoá không lấy một phụ nữ Nguyệt Viên nổi tiếng đẹp về làm vợ, rồi để lại đây không mang theo ra Bắc? Tôi cũng đã đến làng Nguyệt Viên khảo sát, được ông tộc trưởng họ Nguyễn cho xem cuốn phả bản chữ Hán phô tô và bản đã dịch, cũng chỉ thấy ghi một câu là vị khởi tổ dòng họ này giữ chức “Hành khiển thời Trần, hiệu là Nguyệt Giang, được thờ làm thần ở Tam Kỳ lộ” và ông dẫn tôi ra gần bờ sông chỉ cho xem một ngôi mộ mới xây lại, nghe truyền là mộ cụ khởi tổ của dòng họ. Như vậy chưa có tư liệu lịch sử nào nói rằng danh nhân Nguyễn Trung Ngạn lấy vợ Thanh Hoá, nhất là lại cho biết cụ thể mất và an táng ở xã Quý Lộc!

Trong cuộc Hội thảo khoa học về danh nhân văn hoá Nguyễn Trung Ngạn do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Ban chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long Hà Nội và Ban Liên lạc UNESCO toàn quốc dòng họ Nguyễn Hiền, được tổ chức ở Văn miếu Quốc tử Giám Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2009, tất cả 22 bản báo cáo trình bày và in trong kỷ yếu, cũng không hề có một ý kiến nào cho rằng vị danh nhân họ Nguyễn có vợ ở Thanh Hoá, mất và mai táng ở Thanh Hoá (4). Cả hai cuốn phả bằng chữ Hán về danh nhân Nguyễn Trung Ngạn và hậu duệ của ông ở Thổ Hoàng, Hưng yên và ở Thái Sơn, Nghệ An hiện còn cũng không có lấy một câu chữ nào nói về việc ông lập gia đình ở Thanh Hoá, cũng không có bà vợ nào là họ Vương. Như vậy việc xây mấy ngôi mộ khá khang trang ở Quý Lộc, là xuất phát từ tấm lòng thành của chủ nhân, nhưng sẽ để lại tác hại về lịch sử, gây ngộ nhận cho các thế hệ mai sau. Liệu tới đây dòng họ Nguyễn ở Ân Thi và cả khách tham quan, du lịch, nghiên cứu… hỏi căn cứ vào đâu mà xây mộ danh nhân lịch sử Nguyễn Trung Ngạn tại Quý Lộc, thì chúng ta sẽ trả lời như thế nào? Nên chăng các cơ quan hữu trách cần vào cuộc, để tìm một giải pháp thoả đáng. Tuy hơi muộn, song không thể không làm!

Trường hợp thứ hai cũng xuất hiện ở Thanh Hoá, là có một số di tích, danh lam, muốn khẳng định niên đại ra đời, người ta đã viện dẫn các tư liệu lịch sử liên quan để chứng minh. Song do thiếu hiểu biết, hoặc cố tình, nên có hiện tượng xuyên tạc sử liệu, nhằm phục vụ cho ý kiến chủ quan xuất phát từ những lời đồn miệng, thiếu căn cứ khoa học. Ví như lịch sử chùa Giáng, ở huyện Vĩnh Lộc chẳng hạn. Trong cuốn sách Chùa Tường Vân (chùa Giáng) (5), các tác giả muốn chứng minh ngôi chùa này “đã tồn tại ngót bảy trăm năm”, bằng cách viện dẫn câu chuyện vua Trần Duệ Tông đi đánh giặc Chiêm Thành, ngủ lại ở nơi đây, nằm mơ thấy “đám mây vàng” xuất hiện, điềm báo thắng trận. Quả nhiên quân Chiêm thua, vua Trần Duệ Tông ca khúc khải hoàn trở về, cho xây ngôi chùa này và lấy tên là “Tường Vân” như trong giấc mơ. Tuy không thấy sách ghi xuất xứ của câu chuyện (nhưng rất cần thiết), song nội dung đề cập đến sự kiện vua Trần Duệ Tông đánh Chiêm Thành vào năm Bính Thìn, niên hiệu Long Khánh thứ 4 (1376), nên người đọc thấy rõ là các tác giả đã viện dẫn cứ liệu lịch sử để chứng minh niên đại xuất hiện, đồng thời muốn nói đến sự linh ứng của chùa Giáng. Nội dung cuốn sách có đoạn viết như sau: “… Trên đường đi có qua địa phận núi Đốn Sơn, thấy chốn này huyền linh, phong cảnh hữu tình, bốn bên có núi sông bao bọc, thật là một khu thắng địa. Đêm hôm đó, nhà vua (tức Trần Duệ Tông – NV chú) nằm mộng thấy có một đám mây vàng tựa như dải lụa từ không trung dần dần hạ xuống, đám mây cứ ẩn hiện trông rất kỳ lạ, vua bàng hoàng tỉnh dậy biết mình nằm mộng, đem chuyện kể lại cho quan tướng nghe. Mọi người đều cho là chuyện khác thường, là điểm lành hiển hiện giúp vua thảo trừ giặc.

Hôm sau, vua sai quan làm đàn tế tạ trời đất rồi đem quân đi thảo phạt giặc. Hai bên đại chiến một trận, trong lúc thế trận không phân thắng bại, đột nhiên trời đất bỗng tối sầm, mây mù kéo đến, sấm chớp nổi lên, làm lay động cả vùng đất. Trong không trung xuất hiện đám mây vàng tựa như đám mây vua nằm mộng trước đó, mây bay chao đảo trước trận giặc, quân Chiêm thấy vậy hoảng loạn. Nhà vua thừa thắng thúc quân xông lên làm cho lính Chiêm tan rã. Khải hoàn trở về, vua mở yến tiệc khao thắng ba quân, luận công thưởng phạt, sai đình thần về núi Đốn Sơn lễ tạ. Sắc lệnh cho bản dân lập một ngôi chùa nhỏ ở ngay khu vực tế lễ năm xưa, đồng thời đặt tên chùa theo ý nghĩa đám mây mà vua nằm mộng trước đây, đó là “Tường Vân tự” (Chùa ghi nhớ về đám mây lành)” (6).

Câu chuyện trên là hoàn toàn xuyên tạc lịch sử, có thể xem là bịa đặt. Vì theo ghi chép trong chính sử thì vua Trần Duệ Tông đi đánh Chiêm Thành đã bị đại bại, nhà vua (là vị vua duy nhất của nước ta) đã tử trận ở nước ngoài. Vậy đâu có phải nhờ đám mây điềm lành giúp nhà vua thắng trận, và vua đã tử trận nơi đất khách quê người, thì làm gì có chuyện vua khải hoàn trở về cho xây chùa Giáng và đặt tên chùa? Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rất rõ ràng: “… Giặc thừa thế xông ra đánh. Vua (tức Trần Duệ Tông – NV chú) bị hãm trong trận mà chết. Bọn Đại tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hoà, Hành khiển Phạm Huyền Linh đều chết cả” (7).

Thực tế cho thấy sự tích một số di tích, đền, chùa dựa vào các truyền thuyết, dã sử… Song khi đã căn cứ vào tư liệu lịch sử thì phải đảm bảo trung thực, chính xác. Việc tuỳ tiện xuyên tạc sự kiện lịch sử nói trên, đã dẫn đến một số tác hại khôn lường.

Thứ nhất là người đọc sẽ nghi ngờ, không tin chùa Giáng xuất hiện từ thời Trần và có tên là “Tường Vân”. Thứ hai là muốn chứng minh Thần Phật thờ ở chùa linh thiêng, báo điềm mây lành thắng trận, nhưng sự thực lịch sử lại là bại trận, nên câu chuyện bịa đặt trở thành phản tác dụng!

Hiện tượng trên đây không phải là cá biệt. Vì vậy mong các cơ quan hữu trách cần quan tâm giúp đỡ các Ban quản lý di tích chẳng những trong việc xây dựng, trùng tu, mà cả việc biên soạn, xuất bản các tư liệu dùng để minh chứng lịch sử những di tích, danh lam, tránh phạm phải một số sai lầm đáng tiếc.

Chú Thích:

1. Hương Nao, “ Dấu tích trên đất Thanh của danh nhân Nguyễn Trung Ngạn, người đứng đầu kinh đô Thăng Long thời Trần”, báo Thanh Hoá, ngày 14-3-2009.

2. Giới Hiên thi tập,Tài liệu lưu trữ ở Thư viện tỉnh Hưng Yên.

Nguyễn Tài Cẩn, Ảnh hưởng Hán văn Lý Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn, Nxb Giáo dục, 1998.

3. Vũ Duy Mền, “Về cuốn gia phả họ Nguyễn Công làng Bình Thọ, xã Thái Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An”. Kỷ yếu Hội thảo khoa học danh nhân văn hoá Nguyễn Trung Ngạn, Hà Nội, 2009, tr.109.

Quốc Chấn, Danh Nhân Nguyễn Trung Ngạn (1229 – 1370) với xứ Nghệ, tạp chí Văn hoá Nghệ An, tháng 3-2009.

4. Kỷ yếu Hội thảo danh nhân văn hoá Nguyễn Trung Ngạn, Sđd.

5. Phạm Tuấn, Phạm Tân, Chùa Tường Vân (chùa Giáng), Nxb Thanh Hoá, 2009.

6. Phạm Tuấn, Phạm Tân,…, Sđd, tr.7,8

7. Đại Việt Sử ký toàn thư, tập II, Nxb KHXH, Hà Nội, 1985, tr.161.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.