Ông Thi Văn Khi làm giàu từ rừng Dẻ
Mười năm qua (1993 – 2003) ông Khi và bà con trong làng nhận đất, nhận rừng. Từ 2003-2006, ông Khi tham gia thực hiện đề tài “Canh tác Nông Lâm kết hợp trên vùng đất dốc, gò đồi” do Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam đầu tư (2003- 2006); được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình về Khoa học Công nghệ của Hạt Kiểm Lâm Lạng Giang, chi cục Kiểm Lâm Bắc Giang và Trung tâm Nghiên cứu Quản lý thiên tai và Cháy rừng, ông Khi cùng bà con thôn Hố Cao và Đồng thuỷ được các chuyên gia: Lâm nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt về tận xã mở các lớp tập huấn nâng cao kiến thức, chuyển giao khoa học kỹ thuật, xây dựng bốn mô hình nông lâm kết hợp; điều chế rừng dẻ, chăn nuôi gà dưới tán rừng, đào ao thả cá, nuôi vịt, nuôi ong và mô hình trồng tre bát độ, bảo vệ môi trường.
Những năm đầu, ông Khi và bà con trong thôn Hố Cao không tin là mình làm nổi các mô hình Nông Lâm kết hợp, nhất là kỹ thuật chăm sóc, tỉa thưa rừng dẻ, trồng tre Bát độ, nuôi ong..... Rất khó khăn vì thôn gồm đồng bào 7 dân tộc: Tày, Nùng, Dao, Cao Lam, Kinh, Sán Chỉ, Hoa; dân trí thấp, bà con trong thôn bản kể cả cán bộ xã đều chưa hiểu biết về khoa học canh tác nông lâm kết hợp trên đất dốc, Nhiều người không tiếp thu nổi khoa học kỹ thuật mới. Rừng thì nghèo kiệt do bị chặt phá, phát đốt lâu đời, đất đá ong, sói mòn nghiêm trọng, nguồn nước trong thôn về mùa khô cạn kiệt, đồng ruộng luôn bị bỏ hoang, hoa màu thất bát, đời sống của bà con gặp nhiều khó khăn, thiếu đói. Hằng năm 39% số hộ trong thôn thiếu đói thuộc diện nghèo. Trước tình hình đó, cán bộ kiểm lâm của huyện về giải thích cho bà con nếu ta không có những giải pháp khoa học công nghệ kịp thời thì rừng cứ mất, cái đói, cái rét cứ theo đuổi mãi và phải trả giá đắt trong tương lai.
Được giải thích, được học tập kiến thức mới về Nông Lâm kết hợp, ông Khi đi đầu trong phong trào nhận đất trồng rừng, nhận rừng khoanh nuôi, bảo vệ, chăm sóc. Thấy ông Khi làm rừng đời sống ngày một no đủ, có bát ăn, bát để, cả thôn noi theo ông cùng làm nghề rừng. Kỹ thuật khoanh nuôi bảo vệ những năm đầu còn đơn giản. Đến năm 2003, đoàn cán bộ của Tỉnh, huyện và Trung Tâm nghiên cứu Quản lý Thiên tai và Cháy rừng về khảo sát hiện trường rừng và dân sinh kinh tế, xã hội rồi tổ chức 3 lớp tập huấn chuyển giao khoa học công nghệ cho bà con thôn bản. Ông Khi cứ nhớ mãi hình ảnh các cán bộ cấp trên như: Thạc sĩ Lã Mạnh Cường, Tiến sĩ Lê Minh Hà, các kỹ sư Phạm Quốc Vang, Trịnh An Vĩnh, Phạm Văn Hiền, Ngô Quốc Bình, Hoàng Xuân QuY.... về tận thôn bản hướng dẫn, cầm tay chỉ việc cho bà con kỹ thuật bài cây dẻ, đào hố, chọn giống măng Bát độ, công thức phối trộn thức ăn chăn nuôi gà dưới tán rừng, thả cá, nuôi ong, nuôi vịt. Ông Khi nhắc nhở bà con cố gắng làm theo sự chỉ dẫn của cán bộ và ông đi đầu nhận điều chế rừng dẻ, theo dõi tăng trưởng của dẻ, trồng tre Bát độ xung quanh rừng dẻ với diện tích trên một ha; phía dưới ông Khi lợi dụng thung khe đắp ngay con đập giữ nước để thả cá, nuôi vịt. Kết quả năm 2005-2006 áo cá của ông không chỉ góp phần thu nhập bạc triệu về cá, vịt mà cái quí hơn là nhờ có rừng dẻ xanh tốt, nguồn nước ao hồ đầy ắp suốt mù khô để tưới cho cánh đồng lúa ven đồi phía dưới ao. Từ kết quả xây dựng mô hình rừng dẻ, trồng tre Bát độ, đào ao thả cá, nuôi ong, nuôi gà dưới tán rừng của gia đình ông Khi và bà con thôn Hố Cao, đề tài nhân kết quả ra diện rộng. Nhiều hộ nông dân như hai gia đình ông Chu Văn ái và Đàm Văn Trường thôn Đồng Thuỷ cùng xã Hương Sơn học tập kinh nghiệm điều chế rừng dẻ của ông Khi, sau năm 2005 kỹ thuật tỉa thưa rừng dẻ trở thành quen thuộc với bà con hai thôn Hố Cao và Đồng Thuỷ.
Từ kết quả theo dõi tăng trưởng do điều chế rừng dẻ trên diện tích nghiên cứu 3 hécta của gia đình ông Khi, ông ái, ông Trường ở thôn Hố Cao và Đồng Thuỷ, hiện nay chi cục Kiểm Lâm Bắc Giang và UBND huyện Lạng Giang đã có cơ chế chỉ đạo thông thoáng, giao toàn bộ diện tích rừng dẻ tái sinh sau nương rẫy của xã Hương Sơn rộng trên 270 hecta cho bà con tự bỏ lao động để điều chế, chăm sóc bảo vệ rừng. Cơ quan Lâm nghiệp hướng dẫn nghiệp vụ kỹ thuật, bà con chăm sóc được hưởng lợi về gỗ, củi từ tỉa thưa rừng dẻ. Trong tương lai hàng ngàn hécta rừng dẻ ở tỉnh Bắc Giang sẽ có cơ chế chính sách thông thoáng áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ từ kết quả của đề tài mang lại chắc chắn Bắc Giang sẽ có hàng ngàn hộ làm VACR như gia đình ông Thi Văn Khi đã làm giàu lên từ rừng.








