Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 15/09/2008 15:11 (GMT+7)

Nông nghiệp - căn cứ chống lạm phát bị bỏ quên

An ninh lương thực trong tình hình mới

Trong vòng 7 năm, từ 2001 - 2007, tổng diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi chuyển sang đất phi nông nghiệp lên tới 500.000 ha, bằng 5% quỹ đất nông nghiệp. Đáng ngại là xu hướng chuyển dịch nhanh diễn ra ở 2 vùng đồng bằng lớn liên quan đến sản xuất lương thực. 

Ở Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), đất trồng lúa giảm với tốc độ hàng năm cao gấp 2,5 lần mức bình quân chung cả nước. Ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), chỉ với việc tỉnh Long An liên tục điều chỉnh qui hoạnh đã nâng diện tích đất khu công nghiệp từ dưới 10.000 ha lên đến 30.000 ha vào năm 2010. Tỉnh An Giang dự kiến đến năm 2010 giảm 17.000 ha đất nông nghiệp và đến năm 2020 giảm 31.100 ha. Với con số này nhân với 60 tỉnh thì không hề nhỏ. 

Nhưng điều đáng nói hơn là đất chuyển sang sử dụng công nghiệp cũng chưa thực sự có hiệu quả. Bình quân cả nước thì diện tích đất (các khu công nghiệp) cho thuê đạt tỉ lệ 50%, nhưng đó là so với đất có hạ tầng, có đủ điều kiện cho thuê. Còn nếu so với diện tích đất tự nhiên của các khu công nghiệp, thì tỉ lệ sử dụng mới chỉ đạt 33%. 

Ở ĐBSCL, tỉ lệ đất cho thuê theo báo cáo đạt 35% so với diện tích đất có thể cho thuê. Còn so với diện tích đất tự nhiên (đất khu công nghiệp) thì tỉ lệ sử dụng mới chỉ đạt 25%. Nghĩa là cả nước có đến 2/3 đất chưa sử dụng, còn ở ĐBSCL là 3/4. Nhưng các địa phương vẫn cứ kêu thiếu đất và nhà đầu tư nào bây giờ cũng đòi từ vài chục đến vài trăm, thậm chí hàng nghìn ha với các dự án hết sức hoành tráng.

Có một nghịch lý lớn: Nếu như đất trồng lúa bắt đầu giảm từ nơi có năng suất thấp nhất, thì kết quả cuối cùng chỉ còn lại những vùng đất xấu, khó khăn mới trồng lúa!

Hiểu điều này như thế nào? ĐBSH năng suất lúa thấp hơn so với ĐBSCL nên việc chuyển dịch từ đất trồng lúa sang công nghiệp rất nhanh. Đến một thời điểm nào đó thì gánh nặng về an ninh lương thực sẽ đặt trên vai vùng ĐBSCL.

Tại ĐBSCL, xu hướng dịch chuyển cũng lặp lại tình trạng tương tự. Nơi nào đất trồng lúa có năng suất thấp hơn sẽ chuyển dịch sang công nghiệp. Đến một lúc nào đó thì cả vùng ĐBSCL chỉ còn lại Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên là trồng lúa. Ở cả hai vùng này, đất canh tác sớm hay muộn cũng bị thoái hóa do sử dụng ngày một nhiều hóa chất, phân bón. Đất nông nghiệp, đất trồng lúa bị thu hẹp thì dù đó là đất cho năng suất thấp hay năng suất cao cũng dẫn đến hệ quả là phần còn lại nhanh chóng thoái hóa bởi gánh nặng quá lớn trên vai. Diễn biến này đòi hỏi phải có quyết định ngăn chặn thực sự mạnh tay.

Từ nay đến 2010, sản xuất và xuất khẩu vẫn còn tốt. Đến năm 2015, sản xuất đáp ứng đủ cho nhu cầu tiêu dùng, nhưng dư thừa để xuất khẩu có thể không nhiều. Sau năm 2020, vấn đề tùy thuộc vào quỹ đất được duy trì đến mức độ nào và những tiến bộ về năng suất thay đổi ra sao. 

Bài học từ các quốc gia trong vùng rất đáng để suy nghĩ. Philippines, Indonesia cũng đã từng là các nước sản xuất gạo lớn (Indonesia đã từng cho Việt Nam vay mượn 100 nghìn tấn gạo trong các năm 87 - 88) thì nay đã trở thành nước nhập khẩu. Trung Quốc đang đối phó với nạn mất đất nông nghiệp và lo lắng về an ninh lương thực đến mức phải tìm kiếm nguồn đất từ nước ngoài thuê để trồng trọt. Điều này nhắc nhở về sự quan tâm với các vấn đề khoa học, nghiên cứu ứng dụng và đầu tư nông nghiệp cũng như nông thôn.

Đầu tư cho nông nghiệp không thỏa đáng

Đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn thấp đã ảnh hưởng tới tốc độ phát triển và chất lượng sản phẩm nông nghiệp và nền công nghiệp thực phẩm 

Năm 2000, vốn đầu tư vào nông nghiệp là 17,2 nghìn tỉ đồng chiếm 11,4% trong tổng vốn đầu tư, năm 2006 chỉ còn 5,5%. Vốn đầu tư từ khu vực nhà nước vào nông nghiệp cũng thấp: năm 2000 là 10,3% và năm 2006 là 6,2%. Trong tổng số chi tiêu công từ 1997 - 2002 thì phần chi cho nông nghiệp chỉ chiếm 6%; trong đó thủy lợi chiếm đến 60%. Theo một khảo sát của Ngân hàng Thế giới, khoản chi cho công tác nghiên cứu trong nông nghiệp là cao nhất nhưng cũng chỉ chiếm chưa đầy 2%, phần lớn là chi trả lương, chi tiêu hành chính. 

Lâu nay Chính phủ nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh nhưng hầu như mới chỉ đến khu vực đô thị, chứ chưa về đến nông thôn. Số doanh nghiệp hoạt động trong nông nghiệp chỉ chiếm chưa đầy 1% tổng số doanh nghiệp cả nước, FDI 2trong nông nghiệp cũng chưa đến 5% tổng FDI. Ngay ở ĐBSCL với 21% dân số nhưng chỉ đạt 16,5% tổng vốn đầu tư từ ngân sách. 

Với nông nghiệp, chỉ số ICOR lẽ ra phải cao hơn công nghiệp và dịch vụ nhưng thực tế ở Việt Nam lại thường thấp hơn 3. Điều này cho thấy tình trạng vốn đầu tư vào nông nghiệp liên tục nhiều năm bị cắt xén để phục vụ cho công nghiệp hóa và đô thị hóa. Điều này cũng nói lên là chính sách đối với khu vực nông nghiệp với hơn 70% dân số còn nhiều thiếu sót. 

Đầu tư thấp mà yêu cầu phải có mức tăng trưởng cao và cải thiện chất lượng sản phẩm, cải thiện nông thôn là điều không thể. Các con số này cho thấy chưa có sự chuẩn bị tốt cho việc hội nhập vào WTO. Đó cũng là lỗ hổng lớn trong chính sách đảm bảo cho sự bền vững của nền kinh tế. 

Đầu tư vào nông nghiệp thấp, chỉ số ICOR nông nghiệp thấp, giá cả nông sản lại tăng vọt và thay đổi thất thường là dấu hiệu cho thấy tình trạng bất ổn ở nông thôn, đe dọa tính ổn định của cả nền kinh tế đặc biệt trong bối cảnh lạm phát gia tăng. 

_________

Chú thích:

1. CPI (Consumer Price Index): Chỉ số giá tiêu dùng.

2.FDI (Foreign Direct Investment): Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.

3 Chỉ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio): Hệ số gia tăng của vốn đầu tư toàn xã hội so với tăng trưởng kinh tế, phản ánh số vốn phải bỏ ra để thu được một đồng lợi nhuận. Chỉ số ICOR của khu vực I năm 1999 là 5, của khu vực II là 5,5 và khu vực III là 20. Nhiều năm sau tình hình vẫn không được cải thiện. Đến năm 2005, chỉ số ICOR của khu vực  I  là 5,2 thì của khu vực II là 5,4 và khu vực III là 8,1.

Nguồn: Thông tin KH&CN Nghệ An, 4/2008, tr 9

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.