Những chặng đường cấy ghép tạng
Đầu thế kỷ 17, các nhà giải phẫu ở miền Nam nước Ý bắt chước nông dân ghép cây nho, để tái tạo khuôn mặt bằng phương pháp vá thịt. Nguyên tắc này đến nay vẫn còn được áp dụng. Sau đó là những chuỗi dài thất bại với một vài thành công mà người thực hiện cũng không hiểu rõ được nguyên nhân.
Mở đầu cho ngành ghép tạng là người Tiệp Khắc, năm 1914, BS Elschnig ở thủ đô Prague đã liều lĩnh thử ghép giác mô cho một người bị tai nạn tương đối thành công. Đó cũng là thành công duy nhất của ông và của ngành y trong suốt thời gian 30 năm sau đó, giữa hàng ngàn cuộc mò mẫm thử nghiệm kín đáo mà các thất bại đều được giữ kín. Tuy nhiên có thất bại vô tình bị tiết lộ, trường hợp của BS René le Riche, năm 1933, ông thử đính cơ vân vào tim một bệnh nhân nhưng thất bại. Điều đó cho thấy nỗi khao khát khoa học đã không từ bỏ bất cứ cơ hội nào có thể. Năm 1937, một thành công vẻ vang trong việc ghép da ở hai anh em sinh đôi đã mang đến cho ngành y học một triển vọng sáng sủa.
Khi thần dược corticoid ra đời, dấy lên phong trào sử dụng ồ ạt vì hiệu quả và đa tính năng, các nhà giải phẫu đã không thể không quan tâm. Họ sử dụng và phát hiện corticoid đã hỗ trợ rất lớn cho việc cấy ghép với một cơ chế chưa rõ. Với việc sử dụng corticoid, năm 1953 ở Boston (Mỹ), các nhà giải phẫu đứng đầu là BS John P Merrill đã ghép thành công quả thận của người anh cho người em sinh đôi tên Richard Harrick.
Nhưng kết quả trọn vẹn phải đến năm 1958, John P Merrill hợp tác với GS Joseph Murray thực hiện thành công việc ghép thận cho một cặp sinh đôi. Người nhận sống được 7 năm. Cũng trong năm 1958 này, GS Jean Dausset phát hiện ra hệ miễn dịch HLA, người ta mới hiểu cơ chế loại thải dị vật của cơ thể, qua đó xác định hiệu quả suy giảm miễn dịch của corticoid trong những ca cấy ghép. Với phát minh này và một số nghiên cứu của các công sự, năm 1980 Jean Dausset, Baruj Benacerraf và Georges D Snell đã được trao giải Nobel sinh lý học. Hội đồng trao giải đã đánh giá: khám phá về những cấu trúc được quy định về mặt di truyền trên bề mặt tế bào, có tác dụng điều hoà những phản ứng miễn dịch.
Bức màn bí ẩn về thành công và thất bại của việc cấy ghép đã được vén lên, đó là vấn đề tương hợp mô và tương hợp thuyết hệ.
Nắm rõ vấn đề, năm 1962, các nhà khoa học đã chế ra các loại thuốc ức chế miễn dịch như Immuran, Serum antilymphocytaire và tăng cường thêm corticoid. Từ đó các nhà giải phẫu đã mạnh dạn lấy phủ tạng của người chết ghép cho người sống dù không cùng huyết hệ, tỷ lệ thành công cao hơn thất bại.
Năm 1972, đánh dấu cột mốc quan trọng thứ hai cho cấy ghép phủ tạng. BS J F Borelm, thuộc phòng thí nghiệm Sandoz ở Thuỵ Sĩ đã phát hiện ra đặc tính triệt tiêu miễn dịch của ciclosporin. Chất này được chiết ra từ một loại nấm ở vùng cao nguyên Hardangervidda thuộc miện Nam Na Uy. Các thử nghiệm đầu tiên ở con người được thực hiện vào năm 1978 và việc dùng ciclosporin để ghép xương tuỷ và thay thế các bộ phận được áp dụng rộng rãi vào năm 1983.
Năm 1982, lại một tin vui cho khoa cấy ghép, các nhà nghiên cứu của công ty Fujisawa đã chiết ra được PK 506, một chất ức chế miễn dịch mạnh, từ một loại nấm ở núi Tsukuba nước Nhật. Với hiệu lực mạnh hơn ciclosporin từ 50 đến 100 lần, PK 506 giúp các nhà giải phẫu ghép ruột và nhiều bộ phận trong khoang bụng với quy mô lớn.
Năm 1989, các nhà khoa học tiếp tục tìm ra hai chất chống thải mới, acid mycophenolic và tacrolinmus tương đương với ciclosporin và FK 506. Khoa cấy ghép phủ tạng tiến bộ vượt bậc, các nhà khoa học có thể thay thế một lúc ba tạng quan trọng trong khoang bụng: gan - tuỵ - thận hoặc cả trong khoang ngực và khoang bụng: tim - gan - thận.
Yếu tố chống thải là yếu tố quan trọng nhất của việc cấy ghép. Mặc dù thu nhiều thành quả, nhưng theo một thống kê của các chuyên gia Nhật, năm 1996, tỷ lệ sống sau ghép tạng của các cặp tương hợp là 82,6%, còn các cặp không tương hợp chỉ được 58,6%. Chính vì thế, các nhà nghiên cứu không ngừng tìm kiếm chất chống thải mới. Năm 2004, có thêm 4 chất chống thải mới được sử dụng trong các ca cấy ghép quan trọng: Ropamycin, Mizoribin, Mycophenolat, Maphetil.
Bên cạnh khó khăn về kỹ thuật, khoa ghép tạng đã gặp rất nhiều khó khăn về mặt đạo đức và pháp lý. Bình quân mỗi năm thường xuyên có khoảng 200.000 người ở trong tình trạng khẩn cấp có nhu cầu ghép tạng, nhưng lượng tạng hiến tặng chỉ đáp ứng được một phần ba. Còn lại số lượng rất lớn chờ đợi đến lượt, lần lượt qua đời vì không có tạng thay thế.
Để vượt qua khó khăn này, công ty Imutran ở Cambridge (Anh) và Nextran ở Princeton (Mỹ) đã nghiên cứu nuôi heo biến đổi gen để lấy tạng. Vệc nhân bản vô tính để lấy tạng có thể là nhân tố tích cực về mặt khoa học, nhưng về mặt đạo đức là điều tuyệt đối cấm kỵ. Hiện nay, việc biệt hoá tế bào mầm để sản xuất tạng là niềm hy vọng của nhân loại.
Nguồn: Thuốc và sức khoẻ, 323, 01- 01 - 2007, tr.32








