Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 04/12/2014 19:57 (GMT+7)

Những bài học quý từ dự án giúp dân ứng phó với biến đổi khí hậu

Mục tiêu cụ thể của dự án: Nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu (BĐKH), mối đe dọa và hậu quả của rủi ro thiên tai do tác động của BĐKH đối với người dân cho cán bộ chính quyền, ban phòng chống lụt bão, các tổ chức quần chúng và người dân tại hai xã Nậm Khắt và Mồ Dề, huyện Mù Cang Chải; Tăng cường sự tham gia của người dân vào lập kế hoạch ứng phó với BĐKH và rủi ro thiên tai do tác động của BĐKH nhằm  cải thiện sinh kế bền vững trong bối cảnh BĐKH.

Qua 2 năm triển khai, dự án trang bị kiến thức và kỹ năng truyền thông về BĐKH cho 40 cán bộ truyền thông của huyện Mù Cang Chải và hai xã Nậm Khắt và Mồ Dề; Nâng cao nhận thức về BĐKH cho người dân và học sinh các trường Phổ thông Dân tộc Ban trú TH và THCS xã Nậm Khắt và Mồ Dề; Tổ chức hơn 30 khóa hội thảo, tập huấn về BĐKH và kỹ thuật trồng và chăm sóc cây sơn tra; Hỗ trợ cho 20 mô hình trồng và bảo vệ sơn tra điểm và xây dựng 4 lò sấy, 6 mô hình sân phơi sơn tra hộ gia đình tại xã Nậm Khắt; biên soạn, phát hành 200 cuốn sổ tay hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc cây sơn tra; Phát hành 600 cuốn tài liệu hoá các bài học kinh nghiệp trong lập kế hoạch và ứng phó với BĐKH. Dự án cũng đã hỗ trợ địa phương lắp đặt các hệ thống cảnh báo trên địa bàn hai xã; Hỗ trợ loa cầm tay và cáng cứu thương cho hai xã Nậm Khất và Mồ Dề. Ngoài ra, dự án còn hỗ trợ địa phương xây dựng phương án lồng ghép vấn đề BĐKH với phát triển kinh tế - xã hội.

Với những hoạt động đã triển khai, dự án đã hoàn thành 4 mục tiêu đã đề ra: Nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân xã Nậm Khắt và Mồ Dề, huyện Mù Cang Chải và học sinh 2 xã. Đến nay dự án đã được thực hiện và hoàn thành các mục tiêu đề ra. Mặc dù có những khó khăn nhất định trong quá trình thực hiện, tuy nhiên, các hoạt động của dự án đã được tiến hành một cách nghiêm túc, có chất lượng, hiệu quả. Về tổng thể, sau 24 tháng thực hiện dự án đã chứng minh tính phù hợp, hiệu quả và bền vững ở các khía cạnh khác nhau của dự án, đặc biệt là nâng cao nhận thức và năng lực cho cán bộ và người dân xã Nậm Khắt và Mồ Dề trong các vấn đề liên quan đến BĐKH và rủi ro thiên tai.

Ông Lê Trọng Khang – Phó Chủ tịch BND huyện Mù Cang Chải, cho biết: Sau 2 năm thực hiện, dự án đã giúp cho đội ngũ cán bộ và nhân dân hai xã nâng cao nhận thức về BĐKH và năng lực ứng phó với BĐKH. Thông qua các hoạt động của dự án, cán bộ và nhân dân hai xã nhận thức được tác hại do BĐKH gây ra trong đời sống cũng như trong sản xuất và các giải pháp thích ứng với BĐKH. Dự án cũng giúp cho 12 hộ dân di rời đến nơi an toàn, tạo sự yên tâm cho người dân sinh sống và sản xuất. Ngoài ra, dự án đã giúp UBND hai xã có những kỹ năng cấn thiết để thực hiện lồng ghép BĐKH vào kế hoach phát triển KT-XH của xã nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của BĐKH. Những kết quả mà dự án mang lại cho hai xã góp phần tích cực vào chương trình xây dựng nông thôn mới, được cán bộ và người dân đánh giá cao. Môi trường và kinh tế xã hội xã đã có những chuyển biến tích cực, nhận thức và năng lực của cán bộ và người dân trong vấn đề BĐKH được nâng cao.

Trong hai năm triển khai thực hiện dự án, YENBAI CDSH đã thu được nhiều bài học kinh nghiệm liên quan đến thu hút sự tham gia của người dân vào quá trình lập kế hoạch và ứng phó với BĐKH sau đây.

Bài học 1: Thành lập và duy trì các nhóm sở thích trồng và bảo vệ cây Sơn Tra

Nhóm sở thích (NST) là một hình thức tổ chức tự nguyện của cộng đồng. Các thành viên NST liên kết với nhau trên cơ sở tự nguyện và có cùng sở thích về trồng hoặc bảo vệ cây Sơn Tra trong rừng tự nhiên vì mục đích bảo vệ môi trường, giảm tác động của BĐKH và góp phần cải thiện sinh kế.

Khi thành lập NST, điều quan trọng nhất là phải có người tiên phong đứng ra kêu gọi mọi người tham gia và giúp các thành viên có ý định tham gia NST hiểu rõ, thống nhất được mục đích thành lập và xây dựng được nội qui hoạt động của NST.

Sau khi xác định được người tiên phong cần phải có những hoạt động hỗ trợ họ tổ chức cho họ các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho các thành viên khác hiểu rõ về mục đích, lợi ích của việc thành lập và duy trì NST và xác định rõ các hoạt động của nhóm sở thích. Tiếp đó, cần hỗ trợ cho người tiên phong cùng với các thành viên có ý định tham gia NST xây dựng được nội quy hoạt động của nhóm. Điều này không chỉ giúp các thành viên tham gia hiểu đúng ý nghĩa của các NST và tự nguyện tham gia vào nhóm.

Ngoài ra, các thành viên trong NST cần được nâng cao các kiến thức và kỹ năng cần thiết để duy trì hoạt động của NST, ví dụ như kỹ năng trồng, chăm sóc và bảo vệ cây Sơn Tra, kỹ năng tổ chức, điều hành và duy trì NST, kỹ năng tìm kiếm thị trường và kinh doanh tiếp thị. Những hoạt động nâng cao năng lực không chỉ giúp học viên cảm thấy tự tin, nâng cao hiểu biết mà quan trọng hơn nó là điều kiện cần thiết để đảm bảo rằng các NST có đủ kiến thức và kỹ năng để tổ chức và duy trì các hoạt động của nhóm một cách bền vững. Để hoạt động của NST đi vào thực chất các hoạt động hỗ trợ về cơ sở vật chất cho NST cũng được tính đến nhưng những hỗ trợ này chỉ mang tính khích lệ và “đòn bẩy” chứ không được lạm dụng nhằm tránh tình trạng trông chờ, ỷ lại từ phía người dân vào những hỗ trợ bên ngoài.    

Người dân tham gia khảo sát thị trường bán quả Sơn Tra
Người dân tham gia khảo sát thị trường bán quả Sơn Tra

Duy trì bền vững NST là một thách thức lớn nhất khi hỗ trợ thành lập các NST. Khi tham gia vào nhóm đầu tiên các thành viên có tâm lý tham gia với mong đợi nhận được sự hỗ trợ từ bên ngoài nên họ tham gia và khi không nhận được hỗ trợ như mong đợi họ sẽ rời khỏi nhóm. Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, có thể xảy ra tình trạng các thành viên trong nhóm hiểu lầm hoặc mâu thuẫn với nhau dẫn tới chán nản và không muốn tham gia vào nhóm. Để đảm bảo sự phát triển bền vững cho các NST, ngoài việc nâng cao năng lực cho các hành viên trong NST, thì cần chú ý đến một số yếu tố quan trọng khác như: đảm bảo sự minh bạch trong quá trình tổ chức hoạt động các NST nhất là việc minh bạch về tài chính; phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng thành viên trong nhóm; công khai mọi hoạt động hỗ trợ cho nhóm để tránh hiểu lầm, gây mất đoàn kết trong nhóm. Sự tham gia giám sát của Chính quyền địa phương đối với NST có ý nghĩa quan trọng nhưng cần theo tinh thần khích lệ và tạo điều kiện cho các NST hơn là mục tiêu quản lý hành chính đối với các NST. 

Bài học 2: Lập kế hoạch và ứng phó với BĐKH có sự tham gia của người dân

Bài học kinh nghiệm lớn nhất trong quá trình thực hiện dự án cho thấy việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và lập kế hoạch, ứng phó cần phải có sự tham gia của người dân. Trong quá trình thiết kế các biển cảnh báo, Dự án đã tiến hành tham vấn ý kiến của người dân về nội dung của biển cảnh báo cũng như địa điểm đặt các biển cảnh báo. Với đặc thù là vùng có đa phần người dân tộc thiểu số sinh sống gặp rào cản về ngôn ngữ, nên Dự án đã thiết kế các biển cảnh báo bằng hình ảnh để người dân dễ dàng nhận ra ý nghĩa cảnh báo và có thông điệp cảnh báo đính kèm. Ngoài ra, dự án đã tổ chức các cuộc họp tham vấn với người dân để chính người dân xác định các địa điểm và gia đình có nguy cơ cao về sạt lở đất, lũ quét, cháy rừng… Khi tổ chức các cuộc họp tham vấn, dự án đã khích lệ tối đa sự tham gia của người dân trong việc đóng góp ý kiến bằng việc chia làm nhiều nhóm nhỏ bao gồm riêng phụ nữ, riêng nam giới và/hoặc phân nhóm theo địa hình trong thôn (ví dụ nhóm đầu thôn, giữa thôn và cuối thôn). Tinh thần chung của các cuộc họp tham vấn đó là luôn coi mỗi người dân là một kho kiến thức và kinh nghiệm cần được khai thác. Kết quả vẽ sơ đồ các địa điểm và hộ gia đình có nguy cơ cao với ruie ro thiên tai được vẽ thành sơ đồ cảnh báo trên chất liệu cứng và lắp đặt ở những vị trí dễ quan sát để cảnh báo sớm cho người dân. Đồng thời, sau khi lắp đặt các biển cảnh báo và sơ đồ RRTT, dự án đã tiến hành tuyên truyền cho người dân ở khu vực xung quanh đó về ý nghĩa của biển cảnh báo khi đã lắp đặt để họ hiểu về nội dung cảnh báo và thấy được tầm quan trọng của việc cảnh báo sớm.

Để có thể đưa ra các hành động ứng phó với BĐKH, dự án đã hỗ trợ chính quyền địa phương sử dụng phương pháp lập kế hoạch có sự tham gia khi xây dựng kế hoạch phòng chống lụt bão và rủi ro thiên tai ở cấp xã. Với phương pháp hội thảo lập kế hoạch có sự tham gia, người dân đã được tham gia tích cực vào quá trình thảo luận, đóng góp ý kiến liên quan đến hiện trạng, các nguyên nhân và thảo luận về các giải pháp cần thực hiện để giải quyết.

Bài học 3: Tuyên truyền và vận động người dân di rời đến nơi ở an toàn

Để nâng cao nhận thức cho người dân, sự tham gia của tất cả các bên luôn được khích lệ và phát huy với tinh thần ứng phó với những tác động của BĐKH và rủi ro thiên tai là trách nhiệm chung của người dân và các cơ quan tổ chức trong cộng đồng. Ngoài các tuyên truyền viên được dự án đào tạo và tập huấn tham gia tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân, dự án còn chú trọng thu hút sự tham gia của các tổ chức quần chúng như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân và các trường học trên địa bàn tham gia các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân và học sinh trên địa bàn thông qua các đêm truyền thông về BĐKH. Dự án đã sử dụng kết hợp các biện pháp và hình thức tuyên truyền phong phú như tuyên truyền trực tiếp và gián tiếp, các biện pháp tuyên truyền theo nhóm nhỏ và số đông; địa điểm trung tâm và cụm thôn để thông tin có thể đến được với người dân.

Không chỉ dừng lại ở các hoạt động tuyên truyền, dự án đã thực hiện các hoạt động đi vào chiều sâu đó là vận động những gia đình sống trong khu vực có nguy cơ sạt lở đất và lũ quét di rời đến nơi ở an toàn. Cuộc vận động này cũng đã có sự tham gia của các cấp ủy, chính quyền địa phương và các tổ chức quần chúng. Để khích lệ và tạo đòn bảy, dự án đã có hỗ trợ về tài chính hoặc nguyên vật liệu cho các hộ gia đình khi di rời đến nơi ở an toàn.

Bài học kinh nghiệm cho thấy việc hiện vẫn có những hộ dân mặc dù đã nhận thấy gia đình mình hiện đang sống trong khu vực có nguy cơ nhưng chưa di rời đến nơi ở an toàn hơn do rất nhiều nguyên khác nhau. Chính vì thế, trước khi tuyên truyền cho người dân cần chú ý tiếp xúc với từng gia đình để hiểu tâm tư, nguyện vọng và nguyên nhân của từng gia đình vì sao họ chưa thể di chuyển đến nơi ở mới an toàn hơn. Sau đó, cần phân loại theo các nhóm nguyên nhân để đưa ra các giải pháp phù hợp. Đồng thời, công tác tuyên truyền và vận động cần được tiến hành thường xuyên và liên tục theo tinh thần “mưa dầm thấm lâu” và cần có sự vào cuộc của tất cả các ban ngành đoàn thể.

Bài học 4: Các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cho người dân về BĐKH mang đặc thù văn hóa địa phương

Đêm truyền thông là một hình thức truyền thông đã và đang mang lại hiệu quả cao trong vài trò truyền thông nâng cao nhận thức về BĐKH. Đêm truyền thông được thiết kế dưới dạng sân khấu hóa và lồng ghép các tiết mục văn hóa văn nghệ với nội dung truyền thông về BĐKH. Thông thường đêm truyền thông được tổ chức trong khoảng 2 tiếng và mỗi đêm truyền thông sẽ chú ý tới một số thông điệp quan trọng giúp người dân hiểu được BĐKH là gì? Dấu hiệu nhận biết các tác động tiêu cực của BĐKH, nguyên nhân dẫn tới BĐKH và những hành động người dân cần thực hiện để ứng phó với BĐKH.  Các thông điệp truyền thông này được lồng ghép vào các tiết mục văn nghệ hoặc được thảo luận và chia sẻ sau mỗi tiết mục văn nghệ. Sau mỗi tiết mục văn nghệ đều có phần hỏi đáp để tạo điều kiện cho người dân trao đổi và tạo điều kiện.

Đêm truyền thông cũng là một hình thức thu hút được sự tham gia đông đảo của người dân vừa với vai trò là chủ thể truyền thông vừa với vai trò là đối tượng được truyền thông. Trong các đêm truyền thông, ngoài việc mời những “nghệ sĩ” chuyên nghiệp từ Phòng văn hóa thông tin huyện Mù Căng Chải, thì chính người dân tại địa bàn tổ chức tuyên truyền được khích lệ tham gia thể hiện các tiết mục văn nghệ tự biên, tự diễn vì thế người dân cảm thấy gần gũi và quen thuộc với họ. Ngoài ra, các tuyên truyền viên do dự án đã đào tạo về kiến thức và kỹ năng sẽ tham gia các tương tác, trao đổi với người tham gia để trao đổi về các kiến thức liên quan đến nội dung truyền thông. Sau đó, các thông điệp chính được chốt lại và dịch ra tiếng H’mông để đảm bảo những người tham gia có thể hiểu được các thông điệp này. Ngoài ra, văn hóa và ngôn ngữ H’mông được khích lệ và sử dụng tối đa trong các đêm truyền thông thay vì tiếng phổ thông./.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.