Nhiên liệu sinh học lợi ích khổng lồ nhưng còn đó những nguy cơ
Nhiên liệu sinh học được biết đến trước khi Drake tìm ra dầu mỏ tại Pensylvania (Mỹ), vào năm 1859. Năm 1859, diesel. R đã chế tạo tác động cơ điện dùng dầu lạc làm nhiên liệu. Trong thế chiến thứ nhất và thứ hai, một số nước đã sử dụng ethanol làm nhiên. Ngay từ 1925, H. Ford đã xác định ethanol và dầu thực vật sẽ là nhiên liệu sạch trong tương lai...
Các nước đầu tư phát triển khai thác và sử dụng nhiên liệu sinh học
Hiện nay, có khoảng 50 quốc gia ở khắp các châu lục kể cả các nước có dầu mỏ đã nghiên cứu và sản xuất NLSH với quy mô công nghiệp và thương mại. Năm 2006, toàn thế giới sản xuất khoảng 50 tỷ ít ethanol (70% dùng làm nhiên liệu) so với 2003 là khoảng 39 tỷ lít. Năm 2012, dự kiến thế giới sẽ sản xuất 80 tỷ lít ethanol, và 20 triệu tấn diesel sinh học (2005 - 4 triệu tấn).
Braxin được xem là quốc gia đi đầu sử dụng ethanol làm nhiên liệu ở quy mô công nghiệp. Năm 2006 đã sản xuất 25% ethanol. Có 17 triệu ô tô sử dụng nhiên liệu hỗn hợp này và 3 triệu ô tô sử dụng hoàn toàn ethanol.
Mỹ hiện là quốc gia sản xuất ethanol. Năm 2006 đạt gần 19 tỷ lít, trong đó 70% làm nhiên liệu chiếm 3% thị trường xăng. Năm 2002 dự kiến tăng lên 30 tỷ lít, có khoảng 30% lượng xăng pha 5 - 10% ethanol. Bộ Nông nghiệp Mỹ dự kiến 2030 sẽ đạt đến 200 tỷ lít ethanol. Để khuyến khích sử dụng nhiên liệu sạch, chính phủ giảm thuế 0,5 USD/ galon ethanol và 1 USD/ galon diesel sinh hộc, trợ giá nông dân trồng ngô, đậu tương, ban hành các đạo luật sử dụng nhiên liệu sạch. Nước Mỹ hy vọng thoát khỏi sự phụ thuộc vào nguồn dầu mỏ của nước ngoài bằng cách tăng đầu tư nghiên cứu - phát triển tạo ra các công nghệ mới sản xuất năng lượng sạch, trong đó có nhiên liệu sinh học.
Trung Quốc từ đầu năm 2003 đã sử dụng xăng pha 10% ethanol (E10) ở 5 thành phố lớn, mở rộng thêm 9 tỉnh đông dân cư. Có chính sách giảm thuế để xăng E10 thấp hơn xăng dầu mỏ từ 5 - 10% bắt buộc ô tô của các cơ quan Nhà nước sử dụng E10. Năm 2004, Trung Quốc đã đưa nhà máy sản xuất ethanol nhiên liệu công suất lớn nhất thế giới 600.000 T/ năm tại Cát Lâm. Đến năm 2020, NLSH sẽ chiếm 15% xăng dầu ô tô.
Nhật Bản năm 2002, Bộ Môi trường đã đưa ra chủ trương sử dụng xăng E3 (xăng pha 3% ethanol), khuyến khích các hãng chế tạo ô tô sử dụng nhiên liệu sạch, đến 2030 giảm 20% xăng dầu khoáng dùng trong vận tải.
Ấn Độ từ đầu 2003 đã sử dụng xăng E5 ở 9 bang và 4 tiểu vùng, thời gian tới sẽ sử dụng E5 ở các bang còn lại, tiếp theo là sử dụng E10 ở cả nước. Để cung cấp diesel sinh học dùng cho giao thông cộng, chính phủ có kế hoạch trồng trên 5 triệu ha cây Jatropha trên đất hoang hóa, đến cuối 2008 - 2010 đạt khoảng 5,5 triệu tấn dân sinh học thay thế 10% diesel dầu mỏ, giảm 4,1 tỷ USD nhập dầu mỏ mỗi năm.
Thái Lan từ năm 1985 đã triển khai dự án Hoàng Gia (RCP) do Nhà vua đề xướng phát triển công nghệ hiểu quả sản xuất ethanol từ sắn và diesel sinh học dầu cọ. Tháng 9 năm 2000, thành lập ủy ban ethanol Quốc gia để điều hành chương trình phát triển triển năng lượng sinh học. Tháng 8 năm 2002 ban hành chính sách hỗ trợ tín dụng cho các nhà đầu tư vào NLSH và điều tiết thuế để xăng E10 bán thấp hơn xăng là 0,5 baht/ lít. Hiện nay E10 tiêu thụ 4,3 triệu lít/ ngày. Đến năm 2012, dự kiến sẽ sản xuất 8,5 triệu lít diesel sinh học/ ngày.
Các nước EU ưu tiên đầu tư vào NLSH và nhiên liệu thay thế khác. Hỗ trợ 45 EURO/ ha canh tác cây nguyên liệu năng lượng, giảm thuế, khuyến khích tín dụng đầu tư nhiên liệu sạch. Hiện đã sử dụng xăng pha 5% ethanol và xăng pha 5% diesel sinh học hoặc 15% hỗn hợp xăng pha cả 2 loại nhiên liệu này. Mục tiêu đến năm 2010, NLSH chiếm 5 - 6%; đến 2020 - 15% tổng nhiên liệu sử dụng...
Phát triển nhiêu liệu sinh học, hạn chế và nguy cơ ở Việt Nam
Quyết định 177/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm đến năm 2025” đã chỉ rõ: Phát triển nhiên liệu sinh học, một dạng năng lượng mới tái tạo để thay thế một phần nhiên liệu hóa thạch truyền thống, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường. Theo đó, mục tiêu đến năm 2010 sẽ xây dựng và phát triển mô hình sản xuất thử nghiệm và sử dụng NLSH quy mô 100 ngàn tấn E5 và 50 ngàn tấn B5/ năm; bảo đảm đáp ứng 0,4% nhu cầu xăng dầu trong cả nước. Giai đoạn từ 2011 đến 2015 xây dựng và phát triển các cơ sở sản xuất và sử dụng NLSH trên phạm vi cả nước, đến năm 2015 sản lượng ethanol và dầu thực vật đạt 250 ngàn tấn (pha được 5 triệu tấn E5, B5), đáp ứng 1% nhu cầu xăng dầu của cả nước.
Từ 10 năm qua, Việt Nam đã chú ý đến năng lượng sinh học. Một số cơ quan nghiên cứu và doanh nghiệp đã nghiên cứu công nghệ sản xuất ethanol khan; nghiên cứu và thử nghiệm gasolhol (xăng pha ethanol) và diesel sinh học từ dầu mỡ động thực vật. Một số công ty ở miền nam đã đầu tư sản xuất diesel sinh học từ mỡ cá basa với công suất khoảng 40.000 T/ năm. Đã có một số công ty trong nước và nước ngoài ký thỏa thuận hợp tác dự án sản xuất ethanol nhiên liệu và dự án sản xuất ethanol nhiên liệu và trồng cây Jatropha để sản xuất diesel sinh học khi điều kiện cho phép.
NLSH được biết đến với rất nhiều lợi thế: là một trong những biện pháp kìm hãm nóng lên toàn cầu; giúp các quốc gia chủ động, không bị lệ thuộc nhiều vào việc nhập khẩu nhiên liệu, đặc biệt các quốc gia không có nguồn dầu mỏ và than đá. NLSH phát triển sẽ ổn định được tình hình năng lượng cho thế giới; tạo công ăn việc làm cho nhiều người dân...
Bên cạnh lợi ích của phát triển nhiên liệu sinh học, còn có không ít nguy cơ đáng lưu ý về môi trường, kinh tế và xã hội. Đây là hai mặt của một quá trình phát triển. Vấn đề là thúc đẩy lợi ích của NLSH và hạn chế những nguy cơ.
Ông Dobald Coxe nhà chiến lược hàng đầu, Tập đoàn tài chính BMO của Canada đã cảnh báo một cuộc khủng hoảng lương thực đang xuất hiện và sẽ trở nên nghiêm trọng hơn bất kỳ cuộc khủng hoảng lương thực nào trước đây thế giới từng chứng kiến. Việc sử dụng đất để trồng cây nguyên liệu sản xuất NLSH có thể ảnh hưởng đến nguồn cung cấp lương thực, hoặc làm tăng giá lương thực, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Khi người nông dân trồng cây nguyên liệu có lợi hơn trồng cây lương thực sẽ làm giảm sản lượng lương thực.
Để sản xuất, phát triển NLSH cần nhiều loại cây nguyên liệu đòi hỏi rất nhiều nước trong quá trình sinh trưởng. Nếu diện tích quá lớn, số lượng quá nhiều sẽ làm ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước khu vực. Ngoài ra một số chất dùng bón, tưới đối với cây nguyên liệu gây ra ô nhiễm môi trường.
Để có đất và mở rộng diện tích trồng cây nguyên liệu người ta có thể tiếp tục phá rừng, làm giảm diện tích rừng. Chẳng hạn tại tỉnh Permambuco (Braxin) nơi trồng mía nhiều nhất thì diện tích rừng chỉ còn lại 2,5% so với ban đầu. Mặt khác, trồng cây duy nhất một loại cây trồng thời gian dài trên cùng một diện tích đất sẽ gây ra tình trạng độc canh, đất đai trở nên cằn cỗi và không thể tiếp tục canh tác được.
Nguy cơ khai thác NLSH ồ ạt, không tính toán từ rác thải nông nghiệp và một số loài thực vật làm giảm tác dụng giữ nước chống xói mòn đất và việc bảo vệ môi trường. Cùng với việc mở rộng diện tích sản xuất NLSH quy mô lớn, đất đai tập trung vào các công ty và lớp người giàu có. Trong khi đó, một lớp người nghèo bị mất phương tiện sản xuất rơi vào tình trạng thất nghiệp, nghèo đói làm bất ổn đời sống xã hội và kéo theo sự phân hóa nghèo càng lớn...
Còn nhiều khó khăn và nguy cơ khác ảnh hưởng đến quá trình phát triển NLSH của mỗi quốc gia chưa thể thống kê hết. Tuy vậy, vượt lên tất cả NLSH vẫn mang những lợi ích khổng lồ, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng của mỗi quốc gia, xóa đói giảm nghèo cho người dân và góp phần vào công cuộc giữ gìn, bảo vệ môi trường cho hành tinh của chúng ta.








