Nhân tài cũng cần có cơ hội
Đỗ Quang (1807-1866) là người làng Phương Điếm (Hải Dương), đỗ Cử nhân năm Mậu Tý (1828), đỗ Tiến sĩ năm Nhâm Thìn (1832), từng làm Thị lang bộ Công, Hàn lâm trước tác, Toản tu Quốc sử quán, chánh chủ khảo, duyệt quyển nhiều kỳ thi của triều đình. Có ba lần chấm thi của ông gắn liền với việc đánh giá tài năng của sĩ tử Đặng Huy Trứ (1825-1874), quê ở Hương Xuân (Hương Trà, Thừa Thiên - Huế).
Năm Quý Mão (1843), Đặng Huy Trứ dự thi Hương và đỗ Cử nhân nhưng không dự lễ xướng danh, nhận mũ áo ban thưởng mà mải đi… xem hát. Đỗ Quang làm phó chủ khảo kỳ thi đã nói với chánh chủ khảo là Phạm Duy Trinh rằng đó là một lỗi của Trứ nhưng cơ bản Trứ được sự giáo dục tốt của gia đình, bài thi ở cả 3 trường không có chỗ nào gạch xoá, rất xứng đáng đỗ và nhận thưởng. Nhờ thế, lần thứ nhất Đặng Huy Trứ không bị phạt.
Khoa thi năm Đinh Mùi (1847), Đặng Huy Trứ dự thi Hội. Trong bài phú (thuộc phần thi văn sách) ông có dùng 4 chữ “ Gia Miêu chi hại” (cỏ năn làm hại lúa) mà không biết rằng từ “ Gia Miêu” đồng âm với từ chỉ quê hương của nhà Nguyễn (1802-1945). Theo quy định đương thời, sai sót ấy bị phạt rất nặng: Bị đánh 100 trượng, lưu đày 3 năm, suốt đời không được dự thi nữa. Đỗ Quang đã tâu vua rằng những từ đó Đặng Huy Trứ dùng không phải cố ý mà do vô tình, xin cho ông vẫn đỗ Tiến sĩ nhưng xếp vào cuối bảng. Kết quả, Đặng Huy Trứ bị truất cả học vị Cử nhân và Tiến sĩ nhưng không phải đi đày; sau đó được đi thi trở lại ngay trong năm 1847 và đỗ Giải nguyên (đỗ đầu) kỳ thi Hương. Đỗ Quang rất hài lòng vì đã đánh giá đúng một tài năng chứ không phải vì tình riêng với gia đình Đặng Huy Trứ. Đó là cơ hội may mắn lần thứ hai và Đặng Duy Trứ không chỉ thoát khỏi trọng tội mà còn có dịp thể hiện tài năng.
Chuyện xảy ra trong kỳ thi Hương năm 1847 (kỳ thi mà Đặng Huy Trứ được đi thi trở lại) là một sự kiện đặc biệt. Trong bài phú của mình, Đặng Huy Trứ có viết câu:
“Cầu tư thương, cầu chư sương, cố tỉ tiết sùng dungchi kế vịnh
Quan chư dân, quan chư dã, lượng huyền tự áo thảochi câu vô”
(Có nghĩa là: Cầu cho kho này, cầu cho kho nọ, tiếp tục cất lời ca, thóc chất cao như thành.
Nhìn khắp chúng dân, nhìn khắp đồng nội, không có cảnh ruộng đầy cỏ mọc, người gác bỏ cày).
Toàn bộ bài phú được đánh giá rất xuất sắc, riêng 4 chữ “ huyền tự áo thảo” ông lấy từ câu “ dân vô huyền tự, dã vô áo thảo” trong sách Chu ngữ của Trung Quốc nhưng có biến hoá trong cách dùng từ, cách thức diễn đạt mới, nên tất cả các quan giám khảo 3 vòng sơ khảo, phúc khảo và giám khảo đều… bí. Họ không biết các chữ đó lấy ở sách nào, hơn nữa lại đối rất chỉnh với 5 chữ “ tỉ tiết sùng dung” và không ai trong số họ dám “ khuyên” (chấm đỗ) hay “ sổ” (loại vì không đạt). Đó là trường hợp mà lịch sử thi cử trước đó không có và sau này chắc cũng sẽ không có. Cuối cùng thì giải pháp được đưa ra: Bài thi được chuyển cho trường ngoài xem xét và Tiến sĩ Đỗ Quang được sung làm quan phúc hạch, khi đọc bài phú xuất sắc ấy đã rất hài lòng mà “ khuyên” (chấm đỗ) cho Đặng Huy Trứ.
Ngoài trường thi, lúc không còn là tư cách giám khảo, Đỗ Quang vẫn rất tán thưởng bài làm của Đặng Huy Trứ. Ông không quên người học trò hai lần thi Hương đều không phải sửa chữa bất cứ chữ nào trong cả các kỳ; nội dung bài hay, hình thức sáng sủa, bộc lộ tài năng và chí khí hơn người. Những điều đó chứng tỏ Đỗ Quang có “ mắt xanh” nhìn nhận đúng hiền tài. Đặng Huy Trứ đã trở thành người có tư tưởng canh tân đất nước thế kỷ XIX, coi trọng phát triển khoa học, kỹ nghệ, mở mang giao lưu, buôn bán và học tập phương Tây, mở trường học tư, in ấn và phát hành tân thư… Ông là một tài năng đa dạng, viết nhiều sách, trong đó có nhiều cuốn có giá trị bàn về lề lối làm quan với quan điểm tiến bộ: “ Giữ chức vị mà chẳng làm việc, chỉ ăn không là nhục”, ngoài ra còn có các cuốn binh thư, sách dùng để dạy học, giáo dục… Ông còn là nhà thơ hiện thực lớn, để lại 12 tập thơ với 1200 bài.
Điều đáng nói là trong khi lứa hậu sinh nổi danh như thế, chính Đỗ Quang lại chịu nhiều chìm nổi. Ông từng là thầy giảng sách, dạy học cho vua Tự Đức (1848-1883), sống quang minh, chính trực, được dân yêu mến, kính phục nhưng lại không được triều đình trọng dụng, không được trao cho những trọng trách tương xứng với tài năng, thậm chí có lần còn bị cách chức. Khi ông mất, Tự Đức mới truy phong là Thượng thư bộ Lễ, một chức tước mà khi còn sống, ông đã nhiều lần từ chối. Tuy nhiên, với những gì ông đã làm được cho đời, lịch sử không quên ghi nhớ tài đức, công ơn Tiến sĩ Đỗ Quang.
Nguồn: Thế giới trong ta, số 248, 11/2006








