Nhận diện và điều trị viêm khớp dạng thấp
Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh trong đó cơ thể bị “dị ứng” với một số thành phần của máu. Những thành phần này tích tụ trong các khớp và một vài bộ phận khác của cơ thể. Cơ chế phòng vệ tự nhiên của cơ thể phản ứng lại với sự tích tụ này. Kết quả là khớp bị sưng, đau. VKDT có thể gây tàn tật cho người bệnh, thậm chí đe dọa mạng sống. VKDT thường gặp hơn ở phụ nữ 20 - 40 tuổi.
Các triệu chứng ban đầu thường là sốt kèm nhức mỏi và đau khớp. Sau khoảng 4 - 6 tuần, các triệu chứng trở nên dữ dội hơn và xuất hiện cơn đau ở một vài khớp xương, đặc biệt là các khớp tay và chân. Viêm khớp dạng thấp có thể ảnh hưởng đến mắt, phổi, tim... Các triệu chứng có thể biến mất và xuất hiện trở lại sau một thời gian.
Phân biệt với viêm xương khớp
Viêm xương khớp thường bắt đầu sau độ tuổi 40 ở một bên cơ thể, thường liên hệ các khớp đầu gối, hông, tay, chân và xương sống. Không có các triệu chứng toàn thân như mệt, sốt hay giảm cân.
VKDT thường bắt đầu giữa độ tuổi 25 - 40, các triệu chứng có thể xuất hiện và biến mất mà không báo trước, ảnh hưởng đến các khớp ở cả hai bên trong cùng một thời điểm, ảnh hưởng đến hầu hết các khớp, bao gồm khớp đốt ngón tay, cổ tay và khuỷu tay, thường đi kèm với sốt, giảm cân và mệt mỏi.
Bác sĩ có thể cho làm xét nghiệm yếu tố RA, trợ giúp cho việc chẩn đoán.
Nguyên tắc điều trị
* Chẩn đoán đúng:phải đến gặp bác sĩ, đặc biệt là các chuyên gia về bệnh khớp.
* Tránh corticosteroid:các steroid có thể giúp làm giảm nhẹ nhanh chóng các triệu chứng nhưng người bệnh sẽ phải đòi hỏi liều lượng tăng dần theo thời gian. Chúng có tác dụng phụ nghiêm trọng lên hầu hết các bộ phận của cơ thể, phổ biến nhất là tăng trọng lượng, lông phát triển quá mức trên mặt và đục thủy tinh thể.
* Ăn kiêng:người bệnh có thể mất cảm giác ngon miệng và thiếu hồng cầu, vì thế nên ăn một khẩu phần cân bằng và chia thành những bữa nhỏ.
* Hoạt động vừa phải:không cần thiết phải nghỉ ngơi trên giường ngoại trừ trong giai đoạn đau đớn ban đầu. Qua thời kỳ này, người bệnh nên bắt đầu những cử động bình thường của khớp.
* Vật lý trị liệu:sau khi bệnh được kiểm soát đôi chút nhờ các loại thuốc, vật lý trị liệu sẽ giúp lấy lại sức mạnh và tính linh hoạt của khớp.
* Tập thể dục:tập thể dục giúp làm giảm và ngăn chặn cứng khớp, yếu cơ, biến dạng khớp và hạn chế sự phụ thuộc vào những người khác. Tuy nhiên nên tránh uốn cong khớp quá mức. Tăng dần cường độ và thời gian tập luyện tìm sự cân bằng hợp lý giữa tập luyện và nghỉ ngơi.








