Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 07/10/2005 14:28 (GMT+7)

Nhà khoa học đổi mới ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam

Duyên nợ của nhà khoa học này đối với ngành đo đạc và bản đồ bắt đầu từ năm 1964 khi ông thi đỗ vào ĐH Bách Khoa Hà Nội, được chọn theo học ngành đo đạc và bản đồ, nhưng rồi lại được cử đi học toán tại ĐH Tổng hợp. Tốt nghiệp đại học, ông về công tác tại ĐH Mỏ Địa chất, Cục đo đạc và bản đồ, rồi du học tại Ba Lan từ năm 1980. Tuy vậy, mãi cho tới khi đang làm đề tài bảo vệ tiến sĩ bậc 2 tại Ba Lan, ông Võ mới thấy ngành đo đạc và bản đồ thực sự là một lĩnh vực hứng thú, hấp dẫn người nghiên cứu.


Đổi mới công nghệ


Nguyên nhân là vào năm 1985-1986, vấn đề trắc địa toàn cầu (lưới toạ độ toàn cầu, mô hình trọng lực toàn cầu...) đang được đặt ra trong cộng đồng trắc địa phương Tây do công nghệ vệ tinh và CNTT phát triển, thâm nhập vào trắc địa và bản đồ. Nghề đo đạc và bản đồ không còn chỉ là vác mia, vác máy đi lập bản đồ nữa mà là đưa công nghệ đo đạc bản đồ vào việc xác định lại toàn bộ Trái đất (kích thước chính xác là bao nhiêu, chỗ nào phồng lên, lõm xuống, quan sát toàn bộ biến động của mặt đất, dùng kết quả của vệ tinh để xác định sự dịch chuyển lục địa, phát hiện núi lửa, động đất, dự báo khả năng thiên tai). 


Trở về nước vào năm 1988 và tiếp tục công tác tại Cục Đo đạc và Bản đồ, ông Võ thiết lập ngay chương trình đổi mới công nghệ trong ngành đo đạc và bản đồ nhằm đáp ứng nhanh nhu cầu thông tin điều tra cơ bản trong nước cũng như đóng góp vào nghiên cứu toàn cầu. Lúc đó, hạ tầng thông tin địa lý ở Việt Nam rất yếu, tốc độ giải lưới toạ độ mới vào phía Nam diễn ra quá chậm do công nghệ quá cũ. Trong khi đó, hoàn thành được lưới toạ độ thì mới đo được bản đồ. Khi cần xác định toạ độ của một điểm nào đó, phải căn cứ vào điểm đã biết toạ độ gần nhất. Lưới toạ độ quốc gia đưa ra các điểm đã biết như vậy.


Theo công nghệ cũ, lực lượng đo lúc đó khoảng 1.000 người phải dựng các cột tiêu cao 10-30m để ngắm đến và đặt máy đo trên đó. Ngoài ra, chỉ đo được khi thời tiết ổn định, vào lúc hiện tượng chiết quang không mạnh (đầu giờ buổi sáng hoặc cuối giờ buổi chiều). Khoảng cách đo được tối đa là 30 cây số. Một điểm trên núi cao phải mất 1-2 tháng mới đo xong được. Vì thế, trước khi ông Võ đi Ba Lan, lưới toạ độ mới vào được Quảng Nam - Đà Nẵng và sau khi ông về nước, lưới toạ độ mới vào được Đồng Nai.


Mặc dù được Bộ Kế hoạch và Đầu tư ủng hộ song quá trình thực hiện chương trình đổi mới không mấy suôn sẻ vì dựa vào kinh phí ngân sách thì rất chậm. Với tư duy làm khoa học phải tự hạch toán, phát triển công nghệ phải bằng cơ chế thị trường, ông Võ đã đề nghị Cục Đo đạc và Bản đồ thành lập Công ty Kỹ thuật Đo đạc và Bản đồ để phát triển công nghệ vì chỉ có công ty mới có thể chủ động hạch toán. Ngoài ra, ông còn chủ động vay tiền để sớm đưa công nghệ GPS vào Việt Nam , khi thành công ngân sách nhà nước sẽ cấp bù.


Xây dựng hệ quy chiếu và hệ toạ độ quốc gia

Thế nhưng nhập công nghệ này bằng cách nào đây trong điều kiện Việt Nam còn bị Mỹ cấm vận? Sau một tháng tìm kiếm và cân nhắc, ông Võ đã quyết định nhập máy thông qua một công ty kỹ thuật thuộc một trường ĐH của Pháp. Thế là Việt Nam trở thành nước XHCN đầu tiên nhập 5 máy thu tín hiệu GPS (1990), chỉ 3 năm sau khi Mỹ công bố hoàn thiện công nghệ này. Việt Nam chỉ nhập máy còn chủ động nghiên cứu công nghệ bằng trí tuệ trong nước. Năm 1991, Cục Đo đạc Bản đồ bắt đầu ứng dụng GPS vào đo lưới toạ độ ở mọi điểm chưa đo được ở Việt Nam, thời gian đo nhanh gấp 10 lần so với công nghệ cũ và đòi hỏi ít kinh phí hơn tới 3 lần. Lợi thế của GPS là khoảng cách đo được rất xa, tối đa tới 5.000-6.000km, đo vào mọi lúc và trong mọi điều kiện thời tiết.


Tiếp đến, công nghệ này được ứng đụng để đo lưới toạ độ trên biển để gắn toạ độ quốc gia cho các đảo. Năm 1994, sau khi tính toàn lại toàn bộ lưới toạ độ Việt Nam và thấy độ chính xác của lưới đo bằng phương pháp cũ quá kém, ông Võ đề nghị đo lưới "cấp 0" bằng GPS phủ lên lưới truyền thống, nâng độ chính xác lưới này lên hàng chục lần. Cuối cùng, tới năm 1999, Việt Nam đã xây dựng được hệ quy chiếu và hệ toạ độ quốc gia, tạo ra lưới toạ độ quốc gia hiện đại, chính xác, có thể ghép nối được với lưới quốc tế.


Mặc dù có thể ghép nối với lưới quốc tế để hợp tác, tận dụng các thông tin điều tra cơ bản của quốc tế song lưới toạ độ quốc gia của Việt Nam vẫn được giữ bí mật và các nước khác không thể biết được. Ngoài ra, lưới toạ độ càng chính xác thì việc đưa các công trình xây dựng lớn như nhà cao tầng, hầm đường bộ... ra thực địa càng chính xác, chẳng hạn như việc thi công hầm đường bộ Hải Vân vừa qua. Một lợi ích nữa là lưới toạ độ quốc gia hiện đại đảm bảo sẽ không có mẫu thuẫn về mặt bản đồ giữa các ngành, các địa phương, đảm bảo khí tài quân sự được triển khai chính xác.

Với những đóng góp to lớn như thế, toàn bộ công trình nghiên cứu trên vừa qua đã được Chủ tịch nước ký quyết định trao Giải thưởng Hồ Chí Minh 2005. Khi biết quyết định này, ông Võ nói: ""Tôi cảm thấy xứng đáng, yên tâm khi công trình được trao giải thưởng bởi đó là lao động khoa học thực sự, có ý nghĩa thực tiễn cao"".


Nguồn: vnn.vn 2/10/2005

Xem Thêm

Tin mới

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Trí tuệ tích lũy trong lịch sử phải trở thành năng lực dẫn dắt sự phát triển đất nước
Sáng 17/9, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Ban Chỉ đạo) họp Phiên thứ hai. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì Phiên họp.
Đắk Lắk: Đánh giá kết quả vòng sơ khảo Cuộc thi lần thứ I
Chiều ngày 15/9, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Hội đồng Giám khảo Vòng chung khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên, nhi đồng lần thứ I năm 2026 tổ chức họp đánh giá kết quả chấm điểm vòng sơ khảo và thống nhất phương án xếp giải. Cuộc họp được tổ chức theo hình thức kết hợp trực tiếp và trực tuyến, với sự tham dự của các thành viên Hội đồng Giám khảo.
Chủ tịch Bùi Thị Minh Hoài dự Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031
Chiều 14/9, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã tiến hành phiên trọng thể. Bà Bùi Thị Minh Hoài - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội.
Hàng triệu dữ liệu khoa học, công nghệ quốc gia được chia sẻ chung trên một nền tảng
Hệ thống bước đầu hội tụ khối lượng lớn dữ liệu, gồm thông tin về nhiệm vụ khoa học và công nghệ, công bố khoa học, tổ chức khoa học và công nghệ, nhân lực khoa học và công nghệ, thống kê khoa học và công nghệ; cùng hàng triệu dữ liệu được kết nối, chia sẻ từ các hệ thống nghiệp vụ của Bộ như sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng...
Lâm Đồng: Tìm giải pháp tổng thể phòng, chống ngập úng đô thị Đà Lạt
Sáng ngày 11/9, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Lâm Đồng, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh phối hợp với Đại học Thủy lợi - Viện Đào tạo và Khoa học ứng dụng Miền Trung tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Giải pháp tổng thể phòng, chống ngập úng đô thị Đà Lạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu”.
Vĩnh Long: Trao 110 giải thưởng Sáng tạo Thanh thiếu niên, nhi đồng
Sáng ngày 11/9/2026, tại Hội trường UBND tỉnh Vĩnh Long, Ban Tổ chức Cuộc thi Sáng tạo dành cho Thanh thiếu niên, nhi đồng tỉnh tổ chức Hội nghị Tổng kết, trao giải Cuộc thi lần thứ I (năm học 2025–2026) và chính thức phát động Cuộc thi lần thứ II. Hội nghị do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (cơ quan Thường trực Ban Tổ chức) phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan thực hiện.
Gia Lai: Đẩy mạnh tham vấn chuyên sâu và giám sát liên ngành các hoạt động của PanNature
Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức KH&CN trực thuộc và thúc đẩy phát triển lâm nghiệp bền vững, tỉnh Gia Lai ghi nhận chuỗi hoạt động quan trọng của Trung tâm Con người và Thiên nhiên: Từ Hội thảo tham vấn chuyên gia đa bên ngày 08/09/2026 đến đợt giám sát liên ngành thực địa của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) trong hai ngày 11 và 12/9/2026.
Liên hiệp Hội các tỉnh, thành phố: Phát huy hiệu quả nguồn lực trí tuệ giải quyết các bài toán thực tiễn tại địa phương
Hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật các tỉnh, thành phố thời gian qua ngày càng bám sát yêu cầu phát triển và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn. Thông qua tư vấn, phản biện chính sách, chuyển giao khoa học công nghệ, phổ biến kiến thức, đội ngũ trí thức đã có nhiều đóng góp thiết thực, góp phần đưa tri thức khoa học vào đời sống, phục vụ phát triển KH-XH tại địa phương.