Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 06/06/2013 21:23 (GMT+7)

Nguồn lực tri thức và tri thức bản địa(*)

Do những yêu cầu khoa học và mục tiêu phát triển, trong những năm qua, giới nghiên cứu đặc biệt là các nhà sử học, dân tộc học, nhân học, văn hoá học, khoa học phát triển… đã rất chú tâm đến việc nghiên cứu Tri thức địa phương (Local knowledge) hay Tri thức bản địa (Indigenous knowl-edge) (2). Việc trở về với những giá trị nguồn cội, với các nguồn lực tri thức, di sản xã hội, văn hoá và lấy đó làm một trong những cơ sở cho việc xây dựng các chính sách, chiến lược phát triển địa phương, khu vực, vùng và liên vùng… là một xu thế đã và đang được nhiều cấp chính quyền ở Việt Nam cũng như thế giới quan tâm.

Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi không đi sâu bàn về nội dung của các khái niệm cũng như nguồn gốc, bản chất, đặc điểm của trí tuệ (3)và nguồn lực tri thức mà chủ yếu từ cách tiếp cận lịch sử - văn hoá, muốn tập trung làm rõ đặc tính của các nguồn lực tri thức, mối quan hệ tương tác giữa chúng và vai trò của các nguồn lực tri thức trong tiến trình phát triển lịch sử, văn hoá của dân tộc.

Là một quốc gia có truyền thống lịch sử, văn hoá phong phú, có thể nói không một địa phương nào, một không gian văn hoá vùng, miền nào trên đất nước ta lại không có nguồn lực và vốn tri thức của riêng mình. Người ta hay nói văn hoá là sự khác biệt và Tri thức bản địa, được hình thành trong quá trình lịch sử, là sự thích ứng với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, văn hoá; là sự lựa chọn, tích luỹ kinh nghiệm, sáng tạo của cư dân bản địa qua nhiều thế hệ… chính là sự lựa chọn, kết tinh của tất cả các nhân tố đó. Nói cách khác, Tri thức bản địa là nguồn lực, vốn sống, kinh nghiệm ứng xử được thể hiện trong các phong tục, tập quán, thói quen, phương thức canh tác, lao động, sản xuất và cả những niềm tin của con người với thế giới tự nhiên và môi trường sống của mình. Trên phương diện văn hoá, Tri thức bản địa chính là căn cước để nhận dạng, định dạng vốn tri thức của một cộng đồng dân tộc trong phạm vi một vùng hay khu vực trong kho tàng văn hoá đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Một số người thường coi Tri thức bản địa gắn liền với những giá trị truyền thống. Theo tôi, điều đó đúng nhưng chưa đủ bởi nguồn lực tri thức của một dân tộc hay nói rộng ra là của các cộng đồng dân tộc (với ý nghĩa như một quốc gia) bên cạnh những giá trị lâu dài, bền vững thì vốn sống, sự hiểu biết, kinh nghiệm ứng xử, niềm tin tôn giáo… cũng được tích luỹ không ngừng qua thời gian. Cũng như Tri thức dân tộc (National knowledge), Tri thức bản địa (là những bộ phận hợp thành), luôn thể hiện khả năng thích nghi và không ngừng biến đổi. Nói cách khác, nó luôn được bổ sung, làm mới bởi chính dân tộc đó hoặc những tác nhân văn hoá, xã hội bên ngoài. Do vậy, với tư cách là những người vừa góp phần bảo tồn vừa đồng thời là chủ thể sáng tạo văn hoá, mỗi cộng đồng địa phương hay mỗi cá nhân, nhóm người.. rất khó để có thể tri nhận toàn bộ, thấu đáo những giá trị của nguồn vốn tri thức mà địa phương mình có. Trong cuộc sống thường ngày, người ta vẫn đi nương, làm rẫy, trồng lúa, tỉa bắp, đưa nước vào ruộng, ra khơi đánh cá, chữa bệnh, thực hiện nghi lễ kết hôn, tổ chức tang ma… một cách tự nhiên “như tự ngàn đời xưa” (4)! Nói cách khác, chính Tri thức bản địa đã giúp các cộng đồng người không chỉ khai thác hiệu quả tự nhiên mà còn biết dựa vào tự nhiên và ứng xử hài hoà với môi trường sống.

Trong nhận thức của chúng ta, Tri thức bản địa thường được truyền nối qua nhiều thế hệ. Nguồn tri thức đó có thể thành văn hay bất thành văn. Trong rất nhiều trường hợp, trầm lặng sau những giá trị tưởng như là bất biến đó là biết bao sự biến đổi, thích nghi và hội nhập. Trên thực tế, rất khó có thể xác định được một cách cụ thể, chính xá tất cả các thành tố của nguồn lực tri thức được hình thành, thâm nhập vào trong mỗi dân tộc, cộng đồng văn hoá của các dân tộc từ đâu, bằng cách nào và bao giờ. Từ những điều phân tích trên, có thể cho rằng Tri thức bản địa luôn được cấu thành bởi ba nhân tố: 1. Các giá trị cốt lõi, truyền thống, được tiếp nối, trao truyền qua nhiều thế hệ; 2. Những giá trị bổ sung mà thời đại đem lại, vừa là sự phát triển mang tính kế thừa vừa thể hiện khả năng thích ứng của cư dân bản địa; Và, 3. Ảnh hưởng và những tác nhân văn hoá bên ngoài đến nguồn lực, vốn tri thức của các cộng đồng cư dân bản địa.

Một cách hiểu thứ hai nữa cũng cần phải trao đổi là, cứ nói đến Tri thức địa phương hay Tri thức bản địa là người ta lại nghĩ ngay đến nguồn vốn Tri thức của các dân tộc thiểu số sống trên các vùng cao. Cách hiểu này rõ ràng là có phần phiến diện bởi lẽ, như đã nói ở trên, bề dày và sự phong phú của nguồn vốn tri thức đó. Hơn thế, sức sống của một nền văn hoá, trong đó có nguồn vốn tri thức của một dân tộc, cũng thường được trải nghiệm qua những thách thức của thời gian vì thế các thế hệ sau, những người vừa có sứ mệnh truyền nối vừa thụ hưởng các giá trị đó, cần phải phân tích, đánh giá đúng vai trò, đóng góp của nó trong cuộc sống hiện tại cũng như triển vọng phát triển của mỗi cộng đồng dân tộc. Trong những năm qua, biết bao di sản văn hoá quý báu của các vùng miền đã được nghiên cứu, phục hưng và phát triển trong bối cảnh mới. Điều đáng chú ý là, một số di sản văn hoá chứa đựng vốn sống, tri thức sâu sắc và đặc sắc như Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên, Ca trù, Quan họ Bắc Ninh (5)…đã vượt ra khỏi các không gian văn hoá vùng, miền hay bộ phận xã hội nhất định để trở thành di sản văn hoá chung của đất nước và nhân loại.

Tuy nhiên, cũng có một thực tế là, đối với nhiều vùng cao, trong những không gian văn hoá có phần biệt lập, với những cộng đồng cư dân luôn có y thức bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống, thì chính trong các khu vực đó người ta lại có những điều kiện thuận lợi để bảo lưu các giá trị văn hoá một cách bền vững nhất. Theo lý thuyết “Vòng xoay văn hoá”, các nền văn minh, văn hoá càng giàu năng lực sáng tạo bao nhiêu thì càng có khả năng truyền bá và khuếch tán văn hoá mạnh mẽ bấy nhiêu. Vì thế, đối với các vùng xa xôi (thậm chí là quốc gia láng giềng), trong thung lũng hay trên các sườn núi cao… các yếu tố văn hoá mới thường khó thâm nhập. Nhưng, cũng chính trong môi trường đó, trong những không gian văn hoá tưởng như yên bình, lại là nơi lắng đọng, kết tinh và phát triển sáng tạo nhiều giá trị của các nền văn minh, văn hoá lớn qua các thời đại (6).

Điều thứ ba là, khi nói đến Tri thức bản địa, nhiều người thường hay nghĩ đến một loại hình Tri thức phi văn bản. Theo đó, Tri thức bản địa được coi đồng nghĩa với Tri thức truyền miệng hay Tri thức dân gian. Trong ý nghĩa đó, Tri thức bản địa chỉ là “sự tích lũy kinh nghiệm một cách hỗn độn, thiếu khoa học, khách quan và không đáng tin cậy”! Đôi khi, được biển giải bằng những tri thức hiện đại hay cách nhìn “khoa học”, người ta không khỏi coi Tri thức bản địa là sự thấp kém, thậm chí trên một số phương diện còn mang màu sắc mê tín, dị đoan. Thực ra, nếu coi Tri thức bản địa là sản phẩm đặc thù của một địa phương thì chúng ta cũng phải đánh giá khách quan tất cả những giá trị riêng biệt, đặc sắc, sáng tạo của không gian văn hoá đó. Bởi lẽ, hầu như trong mỗi vùng quê, đều có sự hiện diện của các nghệ nhân, nghệ sĩ…, những người có khả năng đặc biệt trong việc ‘truyền lửa” cho các thế hệ sau qua các bộ sử thi, bí truyền của một phương thuốc, của một liệu pháp tâm lý hay giai điệu, ngữ nghĩa của một câu ca. Bên cạnh đó, trong mỗi cộng đồng dân cư, còn có biết bao những con người bình dị nhưng giàu vốn tri thức trong việc canh tác, phát triển chăn nuôi, tìm nguồn nước cũng như nhận biết những biến đổi của đất trời. Trong những con người đó, có không ít người có học bởi sự phát triển của hệ thống trường làng, trường chùa và cả những trí thức, những người “hết quan hoàn dân” về quê, tiếp tục có những đóng góp cho xã hội. Cùng với kinh nghiệm và tri thức, di sản mà họ để lại còn có nhiều cuốn sách, tư liệu quý về kinh tế, xã hội, văn hoá, về quá trình di cư, khai hoang, mở đất, về thế thứ của các dòng họ và cả về những điều cấm kị trong quan hệ xã hội, những điều cần tuân thủ trong ứng xử với thế giới tự nhiên. Người ta đã xây dựng nên những quy định và trong nhiều trường hợp đã “văn bản hoá” các quy định đó thành các hương ước, luật tục… để tạo nên một sự thống nhất chung của cộng đồng. Đó chính là vốn quý của một dân tộc. Trong rất nhiều trường hợp, các cuốn sách, tư liệu, quy ước và trải nghiệm đó được đúc kết trên nền tảng của các Tri thức dân gian và được sử dụng, khai thác, lưu truyền qua nhiều thế hệ. Như vậy, Tri thức bản địa được bảo tồn, phát triển và sáng tạo trong quá trình lịch sử. Trong quá trình đó, tất cả các thành viên cộng đồng đều có thể tham gia, góp phần bổ sung, hoàn thiện và chính họ đã truyền tải các tri thức đó từ đời này sang đời khác (7).

Không chỉ dừng lại ở đó, một số người còn muốn đưa ra sự đối lập giữa Tri thức bản địa và Tri thức hàn lâm (Academic knowledge). Theo đó, Tri thức hàn lâm được coi là hình thành chủ yếu qua các nhà thông thái, được hệ thống hoá và truyền lại qua học vấn, sách vở. Cực đoan hơn, chịu ảnh hưởng của học thuyết “Lấy châu Âu làm trung tâm “ (Eurocentrism), một số người còn đề cao Tri thức phương Tây (Western knowlegde) và “đối diện” nguồn tri thức này với Tri thức phương Đông (Ori-ental knowledge) đồng thời tuyệt đối hoá ưu thế của nguồn tri thức này như là nguồn Tri thức chính thống (Formal knowledge). Hiển nhiên, chúng ta không thể phủ nhận những đóng góp hết sức quan trọng của Tri thức phương Tây với những thành tựu nổi bật về triết học; tư tưởng, tư duy kinh tế; xây dựng, quản lý đô thị và về kỹ thuật, công nghệ…. Nhưng, những thành tựu đó dù phong phú đến đâu, chỉ là một trong rất nhiều hệ thống tri thức của nhân loại. Những thành tựu rực rỡ, đặc sắc của kho tàng Tri thức phương Đông là không thể phủ nhận. Hơn thế, các nền văn hoá, văn minh phương Đông đã và đang đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của văn minh nhân loại (8). Không ít nhà quản lý ở Tây Âu, Bắc Mỹ… đang phải tìm đến các giá trị phương Đông để kiến lập các giải pháp phát triển đồng thời củng cố cấu trúc xã hội của mình.

Trong khi chúng ta luôn coi trọng vai trò của Tri thức bản địa đối với sự phát triển của các địa phương thì cũng phải thừa nhận một thực tế là, giữa Tri thức bản địa và Tri thức khoa học có sự khác biệt. Giữa hai nguồn lực hay loại hình tri thức đó có những khoảng cách về trình độ nhận thức, năng lực phát hiện, sáng tạo, khả năng tư duy, bao quát cũng như cách thức luận giải các vấn đề khoa học. Tuy nhiên, trên thực tế, một cái nhìn phân lập, cực đoan giữa Tri thức bản địa với Tri thức khoa học hay Tri thức hàn lâm luôn đặt ra cho các nhà nghiên cứu nhiều vấn đề nan giải. Trong Vân Đài loại ngữ, tham khảo sách Lĩnh Nam tạp ký, Lê Quý Đôn đã có những mô tả chi tiết về một loại đá có khả năng hút nọc độc: “thứ đá hút nọc độc, là thứ đá lấy trong óc con độc xà ở đảo Tây dương, to bằng hạt biển đậu, hay hút các thứ thũng độc và nọc rắn rết. Khi nào bị nhiễm các nọc ấy, lấy viên ngọc hấp độc thạch để vào chỗ đau thì nó bám chặt lấy. Hễ nó hút hết nọc, thì nó rời ra, rồi người ta lấy sữa người tẩm cho nó, thấy sắc sữa xanh thì đổ đi. Nếu không tẩm sữa thì hòn ngọc vỡ ngay” (9). Đến nay, trong dân gian, ở miền Bắc cũng như miền Trung, một số gia đình vẫn giữ quyền sở hữu những hòn đá có “phép màu” như thế. Họ coi đó là những bảo vật để giúp đời. Như vậy, giữa thôgn tin khoa học mà nhà bác học Lê Quý Đôn cung cấp thế kỷ XVIII với Tri thức dân gian dường như không hề có khoảng cách. Do vậy, rất khó có thể coi những ghi chép, mô tả trên là thuộc về Tri thức bác học hay Tri thức dân gian mặc dù trong Vân Đài loại ngữcũng như các tác phẩm khác của ông, nhà bác học Lê Quý Đôn còn viết và khảo cứu về nhiều vấn đề học thuật thâm sâu khác.

Cũng cần nói thêm là, trước đây, trên các diễn đàn khoa học, đã có những cuộc tranh luận sôi nổi về sự khác biệt giữa văn hoá (văn chương) bình dân với văn hoá (văn chương) bác học. Dù cuộc tranh biện vẫn chưa có hồi kết nhưng người ta đã phải thừa nhận một thực tế là, giữa hai dòng (hay hai loại hình văn hoá này) luôn có nhiều mối liên hệ mật thiết, luôn chịu ảnh hưởng, tương tác đa chiều trong cuộc hành trình cùng lịch sử - văn hoá dân tộc.

Chú thích:

(*) Bài viết của PSG. TS. Nguyễn Văn Kim có nhan đề Nguồn lực tri thức – các mối liên hệ và sự phát triển kinh tế - xã hộilà một bài dài. Vì khuôn khổ của báo có hạn nên chúng tôi chia thành nhiều bài, với những nhan đề do chúng tôi đặt (B.T).

1. Bạn có thể xem như R. Ellen – P. Parker – A. Bicker (Ed): Indigenous Environmental Knowledge and Its Transformations: Critical Anthro-pological Perpectives, Amsterdam, Harwood Academic Publishers, 2000; Helga Nowotny – Peter Scott – Mi-chael Gibbons: Re Thinking Science – Knowledge and the Public in an Age of Uncertainety(tư duy lại khoa học – tri thức và Công chúng trong kỷ nguyên bất định), Nxb. Tri thức, H, 2009; Nguyễn Văn Khánh (Cb); Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2010..

2. Tham khảo Ngô Đức Thịnh, “ Thế giới quan bản địa”, Tạp chí Văn hoá dân gian, số 4, 2004; Hoàng hữu Bình, Tri thức địa phương và vấn đề phát triển bền vững ở miền núi Việt Nam, Tạp chí Dân tộc học, số 2, 1998; Vũ Trường Giang, “Về tri thức bản địa và phát triển”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, sô 10 (91), 2007; John Amber, Kinh nghiệm nghiên cứu páht triển miền núi - Một số nét khái quát từ châu Á. Báo cáo tại Hội thảo khoa học: Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường vùng Bình - Trị - Thiên, Huế, 1996; R. Ellen and H. Harris , Indigenous Enviromental Knowledge and Its Transformations – Critical Anthropological Perspec-tives, Routledge Taylor and Francis Group, London and New York, 2003.

3. Phạm Hồng Tung, “ Trí tuệ - Nguồn gốc, bản chất, cấu trúc và đặc điểm”, Tạp chí Khoa học – Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, tập 25, số 3, 2009, tr.166-176.

4. Lévy Bruhl, “Kinh nghiệm thần bí và biểu tượng ở người nguyên thuỷ”, Nxb. Thế giới - Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, H, 2008.

5. Nhã nhạc cung đình Huế 92003) và Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên (2005) được UNESCO công nhận là “kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại”. Năm 2009, Ca trù và Quan họ Bắc Ninh tiếp tục được UNESCO công nhận là “Di sản văn hoá phi vật thể “ của thế giới. Trong số các di sản đó, Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên bao gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng với chủ thể sáng tạo là người Ê-đê, Ba-na, Mạ… có thể coi là một loại hình “Tri thức bản địa” hết sức đặc sắc với hai đặc trưng cơ bản là: Hình thành trên một phạm vi tương đối rộng lớn và nhiều tộc người cùng tham gia, sáng tạo di sản văn hoá chung.

6. Các nhà nghiên cứu văn hoá khu vực thường hay viết về trường hợp Kimono, Kiếm thuật và Trà đạo của Nhật Bản. Cả ba thành tựu văn hoá này người Nhật đều tiếp thu từ văn minh Trung Hoa nhưng đều đã kế thừa và phát triển hết sức sáng tạo. Kết quả là, các thành tựu văn hoá đều trở thành di sản đặc sản của văn hoá Nhật Bản.

7. Trong quá trình đó, Trí tuệ cá nhân đã góp phần quan trọng để dần hình thành nên Tri thức tập thể (Collective knowledge) hay Trí tuệ tập thể (Collective intelligence) để rồi từ đó phát triển thành Trí tuệ xã hội (Social knowledge). Hiển nhiên, đó không phải là sự tích hợp, ghép tụ khiên cưỡng. Xem Phạm Hồng Tung, Trí tuệ - Nguồn gốc, bản chất, cấu trúc và đặc điểm, đã dẫn, tr.171-173

8. Arnold Toynbee, nghiên cứu về lịch sử - Một cách thức diễn giải, Nxb. Thế giới, H, 2002

9. Lê Quý Đôn, Vân Đài loại ngữ, tập II, Sđd, tr.139. Lê Quý Đôn, Vân Đài loại ngữ, (Trần Văn Giáp biên dịch và khảo thích), tập II, Nxb. Văn hoá, H.,1962. Đánh giá về Vân đài loại ngữ, học giả Cao Xuân Huy cho rằng: “theo thuật ngữ thư mục học Trung Quốc thì Vân Đài loại ngữlà một bộ “loại thư”… Vân Đài loại ngữlà một công trình nghiên cứu rất lớn. Đối với chúng ta hiện nay nó còn có thể giúp ích nhiều trong sự nghiên cứu văn hoá, triết học, sử học (nhất là những tài liệu phong phú về địa dư lịch sử trong loại khu vũ) tư tưởng sử, ngôn ngữ học, nông học (lịch sử các giống lúa ở Việt Nam), sinh vật học…” Cao Xuân Huy, “Lời giới thiệu sách Vân Đài loại ngữ”, Nxb. Văn hoá, H, 1962, tr.40-41.


Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Chuyển từ cứu trợ tình thế sang chủ động, nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng
Sáng 28/7, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam lần thứ XII, nhiệm kỳ 2026-2031 đã diễn ra với sự tham dự của 500 đại biểu chính thức, đại diện cho hơn 5,6 triệu cán bộ, hội viên, tình nguyện viên và thanh thiếu niên Chữ thập Đỏ cả nước. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội.
Đắk Lắk: Bước tiến đột phá trong điều trị vô sinh hiếm muộn
Tham gia Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk lần thứ X (2024 - 2025), ThS.BS Lê Huy Khải cùng các cộng sự tại Đơn vị Hỗ trợ sinh sản, Khoa Phụ sản, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột (IVFMD BMT) đã mang đến hai giải pháp y học xuất sắc, hiện thực hóa giấc mơ làm cha, làm mẹ của hàng ngàn cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn tại Đắk Lắk.
KTS. Trần Ngọc Chính tiếp tục được bầu giữ chức Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam
Ngày 25/7, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam lần thứ VI, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. KTS. Trần Ngọc Chính tiếp tục được bầu giữ chức Chủ tịch Hội. TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam dự, phát biểu và trao các phần thưởng của Liên hiệp Hội Việt Nam cho tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc.
Liên hiệp Hội Việt Nam sơ kết 6 tháng đầu năm, quyết tâm hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm, hướng tới Đại hội IX
Chiều 24/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị nhằm đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ trong 6 tháng đầu năm, thống nhất các giải pháp thực hiện nhiệm vụ những tháng cuối năm.
Những điều đọng lại từ VCCA 2026
VCCA 2026 diễn ra tại Trường Đại học Quy Nhơn đánh dấu tròn 15 năm Hội Tự động hóa Việt Nam chủ trì tổ chức Hội nghị khoa học và Triển lãm về Điều khiển và Tự động hóa. Đây cũng là kỳ VCCA để lại nhiều ấn tượng cho Ban Tổ chức cũng như các đại biểu tham dự trên nhiều phương diện khác nhau.
Tạp chí Môi trường & Xã hội tri ân các gia đình có công với cách mạng và các gia đình có hoàn cảnh khó khăn
Hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), Tạp chí Môi trường & Xã hội tổ chức chương trình thăm hỏi, tặng quà tri ân các gia đình chính sách, người có công với cách mạng trên địa bàn xã Liên Minh (TP. Hà Nội) và các gia đình có hoàn cảnh khó khăn tại xã An Phú Tân (tỉnh Vĩnh Long).
Đề xuất giải pháp thúc đẩy thương mại hóa nhãn hiệu sản phẩm mang địa danh của tỉnh Sơn La
Chiều ngày 22/7/2026, tại Hội trường Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Sơn La, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Sơn La tổ chức Hội thảo tư vấn với chủ đề: “Giải pháp thúc đẩy thương mại hóa nhãn hiệu sản phẩm mang địa danh của tỉnh Sơn La trước những yêu cầu mới”.
Tổng kết, trao giải Hội thi "Tin học trẻ" và "Sáng tạo trẻ" tỉnh Quảng Trị lần thứ I năm 2026
Sáng ngày 22/7/2026, Ban Tổ chức Hội thi "Tin học trẻ" và "Sáng tạo trẻ" tỉnh Quảng Trị tổ chức Lễ tổng kết, trao giải Hội thi "Tin học trẻ" và "Sáng tạo trẻ" tỉnh Quảng Trị lần thứ I, năm 2026. Tham dự chương trình có đồng chí Hoàng Xuân Tân - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo các sở, ngành, đơn vị phối hợp, các địa phương, trường học cùng gần 200 học sinh đạt giải.