Người xưa chống tham nhũng
Tham nhũng tràn lan như một ung nhọt của cơ thể làm xói mòn lòng tin của nhân dân, mất hết lẽ công bằng, công lý, còn gì là nhân cách đạo đức truyền thống và nhất là ngăn cản sự phát triển của một đất nước. Người xưa phân biệt hai loại quan là quan thanh và quan “tham”, quan thanh thì nghèo mà quan thanh thản còn quan “tham” thì giàu có, sung túc nhưng lại rất dung tục. Nếu buông lỏng, số quan “tham” sẽ không ít nên các vương triều luôn đề ra những biện pháp để ngăn ngừa và xử lý những trường hợp vi phạm.
Chính sách quan lại
Chọn người ra làm quan:
Đa phần những người ra làm quan là những nhà khoa bảng (cử nhân, tiến sĩ, phó bảng), một số tù tài trên 40 tuổi có phẩm hạnh, một số ít con quan được tiến cử để học trường Quốc Tử Giám gọi là giám sinh và xét thấy có năng lực cũng được bổ nhiệm về các địa phương giữ những chức vụ có tính cách tập sự. Điều này có nghĩa người ra làm quan phải có sức học đúng mức trước, không phải vào làm việc mới bắt đầu học.
Sau này người Pháp (thời thuộc Pháp) lập trường Hậu bổ (như trường Quốc gia Hành chính bây giờ), việc thi tuyển vào, cũng như chương trình học tập rất nghiêm túc. Kể gì là cử nhân, tiến sĩ, đã là nho sinh mà chẳng nằm lòng cái đạo ra làm quan: “Dân vi bản” (lấy dân làm gốc), “Dân vi quý (lấy dân làm trọng), “Tiên ưu, hậu lạc” (lo trước, vui sau) (1), v.v...
Khuyến khích các quan thanh liêm:
Tuy đã thông suốt tránh vụ nặng nề của bậc “Cha mẹ của dân”, nhưng có thể do lương phạn ít, đời sống khó khăn, các vị lại nhắm mắt làm liều nhũng lạm của dân. Để khuyến khích, hàng năm triều đình có cấp thêm khoản tiền thưởng gọi là tiền dưỡng liêm cho các quan địa phương làm việc tốt, liêm chính. Cụ thể như:
- Tri phủ, đồng tri phủ: Tối yếu khuyết là 50 quan, yếu khuyết 40 quan, khuyết 30 quan, giản khuyết 25 quan.
- Tri huyện, tri châu: (huyện miền núi): Tối yếu khuyết 40 quan, yếu khuyết 30 quan, trung khuyết 25 quan, giản khuyết 20 quan.
Như vậy, tiền dưỡng liêm cũng khá, so với lương chính chẳng kém bao nhiêu. Đối chiếu: Tri phủ (Hàm tòng ngũ phẩm) lương bổng đồng niên: Tiền 35 quan, gạo 30 phương, tiền xuân phục 7 quan; Tri huyện (Chánh lục phẩm) tiền 30 quan, gạo 25 phương, tiền xuân phục 7 quan (2).
Nhưng dù có trang bị tư tưởng thật tốt và chính sách ưu đãi thế nào cũng khó ngăn nổi nạn tham nhũng hoành hành. Để hạn chế từ cơ bản mối tệ này, dưới triều Tự Đức đã nghĩ đến phương thức hữu hiệu hoá bộ máy quan lại. Theo sớ tâu của Đại thần Trương Đăng Quế (1863- đã về hưu) “Muốn cho quan lại được thanh liêm không gì bằng bớt người làm việc mà tăng lương. Nhưng việc có bớt đi thì người mới có thể bớt được mà muốn cho việc bớt thì quan cần phải được người giỏi, quan giỏi thì đường lối trị nước tưởng đã được quá nửa vậy” (3). Lời tâu thật đúng đắn là thế nhưng chắc triều Tự Đức có thực hiện thì cũng nhếch nhác, do đó việc không ra đâu là đâu.
Những biện pháp ngăn ngừa
Nhưng gì thì gì cũng cần có những biện pháp để ngăn ngừa, hạn chế bớt những cơ hội tạo điều kiện cho tham nhũng, nhà Nguyễn đã ban hành một số luật và chính sách về quan lại, đại thể như luật hồi ty gồm có những khoản chính.
- Những quan đứng đầu địa phương như tri huyện, tri phủ, tuần phủ, án sát... không được bổ nhiệm về quê quán để tránh tình trạng bà con, thân tộc, người làng nhờ vả, xin xỏ (trừ chức Tổng đốc Thanh Hoá – quê hương nhà Nguyễn chỉ dành riêng cho dòng họ Nguyễn Phúc, sau cải là Tôn Thất (không phải dòng Minh Mạng).
- Các quan không được ở tại một nhiệm sở lâu vì ngại sẽ sinh ra dây mơ, rễ má dễ bề tham nhũng (như chính sách luân chuyển cán bộ hiện nay).
- Quan lại khi đã về hưu, sau đó không được trở lại nhiệm sở cũ để đề phòng việc đón tiếp, đãi đằng, quà cáp, gửi gắm... Cụ thể như cụ Nguyễn Công Trứ, sau khi nghỉ hưu (1848) dân 2 huyện Tiền Hải và Kim Sơn nhớ ơn khi cụ làm quan doanh điền sứ ở đây vào năm Minh Mạng thứ IX (1828) mời cụ ra chơi đất Bắc - vụ Tự Đức biết chuyện liền triệu cụ về kinh khiển trách (4).
- Các hoàng thân, thân vương, các tôn tộc hệ chính thống (dòng Minh Mạng thuộc đế hệ) không được đi thi, không bổ làm quan vì ngại sẽ cậy thế làm bậy, tham nhũng, v.v... (sang thời thuộc Pháp nới rộng khoản này), quản lý họ tộc nhà vua có Tôn nhân phủ.
Xử trị kẻ tham nhũng
Đối với quan lại tham nhũng bị xử nặng, nhẹ tuỳ ở mức độ phạm tội, có thể từ phạt trượng, đồ đến tử hình. Pháp bất vị thân, xử tội không cần biết người đó là ai, giữ chức gì, một số vụ việc điển hình:
- Quan ở chức vị cao: Đặng Trần Thường chức Thượng thư Bộ binh, trước làm giả sắc phong cho Hoàng Ngũ Phúc (tướng của chúa Trịnh) bị bắt rồi tha, sau bị tố là khi giữ chức tào binh ở Bắc Thành đã chiếm giữ đầm ao và ẩn lậu đinh điền, ông bị bắt lại, bị khép tội giảo (thắt cổ) dưới triều Gia Long (5).
- Trách nhiệm liên đới:
Dưới thời Minh Mạng, Lưu Công Nghị quản lý sở đúc tiền, bọn thợ đúc ăn bớt đồng, vụ việc được phát hiện, bọn thợ đúc bị khép tội rất nặng, riêng Công Nghị do thiếu kiểm soát, quản lý, không nghiêm phải chịu trách nhiệm liên đới, bị cách chức – Thân Văn Quyền hộ bộ tham tri tấu xin giảm tội cho Công Nghị cũng bị cách chức, sau được khai phục.
- Án được thi hành ngay.
Trong công cuộc đạc điền, lập địa bạ trên toàn cõi xứ Nam Kỳ (1836) “Có tên nhũng lại ở Định Tường là Tống Hữu Tài nhân đưa quy thức đạc điền sách nhiễu lấy tiền của dân. Việc được phát hiện, bọn Giảng liền đem chém để làm gương răn (6).
Kể ra xử phạt những vụ việc trên là quá nặng nhưng cũng có tác dụng răn đe để các quan thấy đó làm sợ, tránh bớt những tật xấu (những án lớn thường nhà vua gửi đi các tỉnh để lấy ý kiến - một hình thức thông báo).
Dư luận của nhân dân
Dưới thời phong kiến không có cơ quan đại diện cho dân như Hội đồng nhân dân, Quốc hội như bây giờ nhưng người dân cũng có quyền khiếu nại, tố cáo lên quan trên. Tuy nhiên, hình thức này hiếm xảy ra vì “thấp cổ kêu không thấu trời” chỉ trừ trường hợp quá oan ức, người dân mới đánh liều kêu oan (ở nhiều triều đại có đặt một cái trống (trống tam pháp) ở trước Ngọ môn, ai có oan đến đánh trống kêu oan. Hiệu quả nhất là hình thức truyền miệng, “Ngàn năm bia miệng” búa rìu của dư luận” tức là đặt vè, câu ca để ca ngợi quan thanh và mỉa mai quan “tham” mà người đời gọi là “cướp ngày”, “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”. Trong quá trình làm quan vơ vét của dân, đến lúc về hưu thế nào của chìm, của nổi cũng ló ra, người dân phát hiện được ngay.
Trên đây là một số biện pháp chống tham nhũng của người xưa, cũng bởi ngày trước công việc ít, các sinh hoạt kinh tế trong xã hội chưa có gì nên nhìn chung là dễ kiểm soát. Tuy vậy, vẫn còn khá đông quan “tham” được “lọt lưới”. Sang thời thuộc Pháp, tình hình đã thay đổi, để ru ngủ đám quan lại mất gốc, người Pháp giả lờ để mặc sức bọn vô lại hoành hành.
_______________
(1) Câu nói của Phạm Trong Yêm trong Nhạc dương Lâu ký“Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc”.
(Lo trước mối lo của thiên hạ, vui sau niềm vui của thiên hạ). Ông đỗ tiến sĩ, làm quan tham tri chính sự dưới đời Tống Nhân Tông (1023-1063), suốt đời đặt nhân nghĩa lên trên lợi lộc.
(2) Theo Việt Nam sử lượccủa Trần Trọng Kim.
(3) Theo ĐNTL, tập XXX (1863-1865).
(4) Theo GS. Lê Thước trong cuốn Nguyễn Công Trứ.
(5) Theo VNSL của Trần Trọng Kim (An này còn nhiều uẩn khúc, Đặng Trần Thường có làm bài Hàn Vương Tôn phú ví mình như Hàn Tín kể nỗi oan của mình).
(6) Trương Minh Giảng - Trấn Tây tướng quân cùng với Trương Đăng Quế - Thượng thư Bộ binh làm kinh lược đại sứ (ĐNTL nhị kỷ Bính Thân (1836).
Nguồn: Xưa & Nay, số 262, tháng 6 – 2006, tr 17 – 18








