Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 23/02/2006 23:54 (GMT+7)

Người anh hùng của cây ngô

Xuất ngoại tìm đường “cứu” ngô

Vừa kết thúc khoa học phó tiến sĩ (tức tiến sĩ bây giờ) chuyên về ngô ở Rumani về nước Trần Hồng Uy đã được GS. Lương Định Của cử lên Xuân Bôi để xây dựng trại ngô đầu tiên của cả nước. Từ sự giúp đỡ không thành công của hai đoàn chuyên gia Rumani (trong các năm 1962 - 1964) và Hunguri (giai đoạn 1971 - 1973), GS.TS Trần Hồng Uy đã phân tích toàn bộ tình hình và phát hiện các chuyên gia Rumani và Hungari đã định hướng không đúng, dẫn tới thất bại. Nguyên nhân là do các chuyên gia của hai nước này đã không nắm được quy luật vùng sinh thái, nên đã đem những giống ngô của vùng châu Âu vốn ưa khí hậu ôn đới, ngày dài “bệ” nguyên sang trồng ở vùng nhiệt đới ẩm, ngày ngắn như ở Việt Nam.

Đứng trước khó khăn đó, GS.TS Trần Hồng Uy đã đưa ra hai đề nghị: ưu tiên lấy nguồn nguyên liệu giống ngô từ những nước có cùng vĩ tuyến với Việt Nam (từ 8 độ 10’đến 23 độ 17’) và giống ngô từ những vùng nhiệt đới ẩm để tạo giống. Đến năm 1977, hai giống ngô tổng hợp mang tên 2A và 2B được nghiên cứu sản xuất trực tiếp tại Việt Nam chính thức ra đời. GS.TS Trần Hồng Uy cũng đã xác định ba bước đi của Chương trình ngô lai Việt Nam gồm: Phải xây dựng quỹ gien, tạo những giống ngô thuần (vì trình độ dân trí lúc đó chưa cho phép sử dụng giống ngô lai) và phát triển chương trình giống ngô lai. Ngay từ năm 1979, trại ngô Xuân Bôi đã phải tiến hành hai chương trình song song: Chương trình giống ngô thuần và chương trình giống ngô lai, trong đó ưu tiên giống ngô thuần.

Khi ngành ngô bước chân vào thị trường thế giới

Mặc dù đã bước qua giai đoạn khó khăn nhất trong tiến trình phát triển, song vẫn có nhiều ý kiến lo ngại rằng ngành ngô nước ta khi vào WTO với cánh cửa thương mại được “mở toang” các sản phẩm ngô của Mỹ, Achentina, Trung Quốc… vào sẽ “bóp chết”. Nhưng GS.TS Trần Hồng Uy lại cho rằng, sự thực không phải như thế. Việt Nam có đầy đủ những tiến bộ kỹ thuật về giống, kỹ thuật canh tác, thậm chí cả công nghệ cao để “cạnh tranh” cùng các công ty nước ngoài.

Muốn vậy, chúng ta phải giải quyết được hai vấn đề: Chất lượng hay là chết và năng xuất phải cao để hạ giá thành. “Chúng tôi đã nhìn rõ vấn đề này từ khoảng 5 - 10 năm trước và đã chuẩn bị hết tất cả mọi thứ cho cuộc đấu này rồi” - GS-TS Trần Hồng Uy tự tin nói. Vì thế, trong hai năm gần đây, Chương trình ngô lai Việt Nam bắt đầu đi vào cuộc “cách mạng” mới, đó là cuộc cách mạng về ngô lai giàu đạm, chất lượng cao. Hàng loạt giống ngô từ LVN 4, lai đơn, ngắn ngày, tiềm năng năng suất 8-9 tấn/ha, LVN 5 lai ké đến LVN 10, LVN 15, LVN 17, LVN 20, LVN 22 thuộc các giống chín sớm, hay LVN 23 là giống ngô dâu bao tử… đã ra đời. Từ năm 2000, Việt Nghiên cứu Ngô đã nghiên cứu và đưa vào sản xuất được giống ngô HQ2000 với phạm vi sản xuất không dưới 20 tỉnh, thành trên cả nước. Trong cuộc “cách mạng” về các giống ngô mới này, chỉ có ba nước có khả năng phát triển được là Việt Nam, Trung Quốc và Ấn Độ. Các công ty thức ăn của nước ngoài đánh giá, ngô nhập từ Mỹ, Achentina, Braxin… có chất lượng không tốt bằng ngô “đá đỏ” Việt Nam, bởi hàm lượng đạm của ngô nhập ngoại chỉ có 7% trong khi ngô Việt Nam đạt 8,5 - 9%. Do vậy, giá ngô của Việt Nam luôn ở mức cao, khoảng 120 USD/tấn, còn ngô nhập ngoại không phải là “đá đỏ”, chỉ khoảng 90 - 95 USD/tấn. GS.TS. Trần Hồng Uy phân tích, riêng hai axit amin quý giá là lipin và lipofan có trong ngô HQ2000 gấp đôi ngô thường. Nếu cùng một lượng ngô, một bên HQ2000, một loại ngô bình thường thì khi ăn ngô HQ 2000 gia súc sẽ lớn hơn 1,3 - 1,4 lần so với ăn ngô thường.

Một thành công khác của GS.TS Trần Hồng Uy khiến thế giới phải thừa nhận khi ông giải quyết trọn vẹn cả lý thuyết và thực hành. Đó là công nghệ trồng ngô bầu trên nền đất ướt, sau hai vụ lúa lần đầu tiên của thế giới do Việt Nam phát minh ra. Công nghệ trên cho phép trồng ngô trên nền đất ướt, sình lầy, từ khi đặt bầu đến khi thu hoạch ngô sống toàn trên bùn ướt mà bộ rễ vẫn phát triển, cây ngô xanh tốt cho năng suất 5 - 7 tấn/ha. Nhiều nước ở châu Á, châu Phi đã sang tham quan, học tập công nghệ này. Mới đây nhất, Viện Nghiên cứu Ngô quốc tế và Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) đánh giá đây là công trình xuất sắc đầu tiên của người Việt trong lĩnh vực cây lương thực trên thế giới.

Năm 1990, tổng diện tích ngô của Việt Nam là 441.000 ha, năng suất bình quân 1,1 - 1,3 tấn, tổng sản lượng 641.000 tấn; đến năm 2004, diện tích ngô lên đến gần 1 triệu ha, năng suất bình quân 3,5 tấn. Dự kiến, năm 2005, năng suất bình quân còn có thể lên 4 tấn, đưa tổng sản lượng ngô nước ta lên 4 triệu tấn.

Nguồn: Khoa học và Đời sống, số 104 (1822), 30 - 12 - 2005

Xem Thêm

Tin mới

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Trí tuệ tích lũy trong lịch sử phải trở thành năng lực dẫn dắt sự phát triển đất nước
Sáng 17/9, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Ban Chỉ đạo) họp Phiên thứ hai. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì Phiên họp.
Đắk Lắk: Đánh giá kết quả vòng sơ khảo Cuộc thi lần thứ I
Chiều ngày 15/9, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Hội đồng Giám khảo Vòng chung khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên, nhi đồng lần thứ I năm 2026 tổ chức họp đánh giá kết quả chấm điểm vòng sơ khảo và thống nhất phương án xếp giải. Cuộc họp được tổ chức theo hình thức kết hợp trực tiếp và trực tuyến, với sự tham dự của các thành viên Hội đồng Giám khảo.
Chủ tịch Bùi Thị Minh Hoài dự Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031
Chiều 14/9, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã tiến hành phiên trọng thể. Bà Bùi Thị Minh Hoài - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội.
Hàng triệu dữ liệu khoa học, công nghệ quốc gia được chia sẻ chung trên một nền tảng
Hệ thống bước đầu hội tụ khối lượng lớn dữ liệu, gồm thông tin về nhiệm vụ khoa học và công nghệ, công bố khoa học, tổ chức khoa học và công nghệ, nhân lực khoa học và công nghệ, thống kê khoa học và công nghệ; cùng hàng triệu dữ liệu được kết nối, chia sẻ từ các hệ thống nghiệp vụ của Bộ như sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng...
Lâm Đồng: Tìm giải pháp tổng thể phòng, chống ngập úng đô thị Đà Lạt
Sáng ngày 11/9, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Lâm Đồng, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh phối hợp với Đại học Thủy lợi - Viện Đào tạo và Khoa học ứng dụng Miền Trung tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Giải pháp tổng thể phòng, chống ngập úng đô thị Đà Lạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu”.
Vĩnh Long: Trao 110 giải thưởng Sáng tạo Thanh thiếu niên, nhi đồng
Sáng ngày 11/9/2026, tại Hội trường UBND tỉnh Vĩnh Long, Ban Tổ chức Cuộc thi Sáng tạo dành cho Thanh thiếu niên, nhi đồng tỉnh tổ chức Hội nghị Tổng kết, trao giải Cuộc thi lần thứ I (năm học 2025–2026) và chính thức phát động Cuộc thi lần thứ II. Hội nghị do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (cơ quan Thường trực Ban Tổ chức) phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan thực hiện.
Gia Lai: Đẩy mạnh tham vấn chuyên sâu và giám sát liên ngành các hoạt động của PanNature
Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức KH&CN trực thuộc và thúc đẩy phát triển lâm nghiệp bền vững, tỉnh Gia Lai ghi nhận chuỗi hoạt động quan trọng của Trung tâm Con người và Thiên nhiên: Từ Hội thảo tham vấn chuyên gia đa bên ngày 08/09/2026 đến đợt giám sát liên ngành thực địa của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) trong hai ngày 11 và 12/9/2026.
Liên hiệp Hội các tỉnh, thành phố: Phát huy hiệu quả nguồn lực trí tuệ giải quyết các bài toán thực tiễn tại địa phương
Hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật các tỉnh, thành phố thời gian qua ngày càng bám sát yêu cầu phát triển và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn. Thông qua tư vấn, phản biện chính sách, chuyển giao khoa học công nghệ, phổ biến kiến thức, đội ngũ trí thức đã có nhiều đóng góp thiết thực, góp phần đưa tri thức khoa học vào đời sống, phục vụ phát triển KH-XH tại địa phương.