Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 17/07/2007 23:35 (GMT+7)

Nghiên cứu xây dựng giải pháp kỹ thuật nuôi tôm sú, cá ba sa và cá tra đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm

Kết quả nghiên cứu


1. Các giải pháp kỹ thuật


1.1 Giải pháp về con giống : Tôm post trước khi thả nuôi đều phải kiểm tra bệnh MBV (tỷ lệ nhiễm <20%), không nhiễm bệnh đốm trắng (WSSV), không nhiễm Vibrio parahaemolyticus và sinh vật bám; toàn bộ tôm post đều được tắm (sốc) formalin 200ppm, thời gian 30 phút. Cá ba sa và cá tra lấy giống từ sinh sản nhân tạo, được ương đạt cỡ 5 -7cm hoặc cỡ 16-20cm rồi chuyển nuôi cá thương phẩm. Cá giống trước khi nuôi tắm nước muối 2 - 3%, thời gian 5 -10 phút; hoặc tắm 1-2ppm iodine, thời gian 10-15 phút. Nuôi tôm sú chỉ có một vụ chính, thả tôm giống từ trung tuần tháng 4 (sau tiết thanh minh) và thu hoạch tôm không chậm quá tháng 10 (lập đông). Ngoài thời gian này, nuôi tôm sẽ gặp nhiều rủi ro. Với điều kiện khí hậu miền Bắc, nuôi cá tra trong ao nuôi thu hoạch trước lập đông là có hiệu quả nhất.


1.2. Giải pháp về thức ăn : Lựa chọn thức ăn nuôi cá tôm theo 28 TCN 102: 2004 và 28 TCN 188: 2004 đảm bảo không nhiễm các chất cấm sử dụng như kháng sinh và độc tố nấm flatoxin, đây là mối nguy chủ yếu đối với việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho cá tôm thương phẩm.


Giải pháp về quản lý môi trường nuôi chủ yếu lựa chọn khoáng chất (các loại vôi), chế phẩm sinh học. Các chế phẩm vi sinh (Aro-zyme, Aquapond-100, Pond-Clear, Soil-Pro, MIC power, EMC, NAVET- Biozym, Pharbioclean, Probiotex-one, Pharselenbiozym) dùng trong công nghệ nuôi tôm sú và cá tra có tác dụng phân hủy mùn bã hữu cơ, làm sạch môi trường.


1.3. Giải pháp về quản lý sức khỏe tôm cá: Ðề tài đã chọn các hoạt chất chiết tách được từ tỏi, sài đất (VTS1-T, VTS1-C) để sử dụng phòng bệnh xuất huyết, hoại tử cơ quan nội tạng (bệnh đốm trắng) do vi khuẩn cho cá tra và bệnh ăn mòn vỏ kitin do Vibrio spp cho tôm nuôi đạt kết quả tốt. Ngoài ra, còn phòng được bệnh nhiễm khuẩn cho tôm cá. Vacxin vô hoạt của các chủng vi khuẩn (A. hydrophila, Edwardsiella sp, Hafnia alvei) và vacxin vô hoạt của 3 chủng vi khuẩn (A. hydrophila, Edwardsiella sp, Hafnia alvei) tiêm với liều 0,2ml có hiệu quả: vừa đảm bảo được tính an toàn 100%, hiệu giá huyết thanh bằng 256 và tỷ lệ bảo hộ 90 100%.


Chi phí hoạt động ở các mô hình nuôi cá rất cao (100 triệu đồng/100m3 đến 2.281 triệu đồng/ha). Trong đó, chi phí thức ăn là cao nhất: 63,30 - 71,67% đối với nuôi cá lồng/bè; 79,56% đối với nuôi cá tra trong ao. Chi phí giống cho các mô hình tỷ lệ khoảng 10%. Chi phí cho hóa chất là 1,44 - 1,94%; chi phí chế phẩm vi sinh làm sạch môi trường nuôi cá ao là 1,32 - 1,67%. Chi phí hoạt động ở các mô hình nuôi tôm bán thâm canh (BTC) 105 triệu đồng/ha và nuôi thâm canh (TC) 200 triệu đồng/ha. Chi phí thức ăn nuôi TC là 62,99-64,04% và BTC là 56,95%; chi phí giống khoảng 10%; chi phi hóa chất 4,93 - 9,84%; chi phí chế phẩm làm sạch môi trường 1,91-3,94%. Hiệu quả nuôi tôm cá đảm bảo ATVSTP: Tỷ lệ thu hồi vốn của nuôi tôm sú TC và BTC lần lượt là 46,62% và 28,06% (của đề tài thực nghiệm), gấp từ 4 - 4,5 lần mô hình khảo sát (8,24%). Ðối với nuôi cá tra và cá ba sa, tỷ lệ thu hồi vốn của nuôi cá bè cao nhất là 31,11% (của mô hình đề tài thử nghiệm), gấp 3 lần mô hình khảo sát (10,81%); nuôi cá ao tỷ lệ thu hồi vốn thấp, của đề tài thử nghiệm (7,01 - 9,13%) và các mô hình khảo sát (12,23%); nuôi cá tra trong lồng trên hồ Thác Bà không có hiệu quả, tỷ lệ thu hồi vốn âm (-0,55%). Các yếu tố rủi ro trong việc đảm bảo ATVSTP nằm ở khâu quản lý sức khỏe tôm cá trong chu kỳ nuôi bởi hiện nay các mô hình nuôi của ngư dân sử dụng 60,00-77,50% kháng sinh để phòng trị bệnh. Do sự biến động về giá sản phẩm tiêu thụ ngoài thị trường, nhờ lợi nhuận mang lại từ các hộ nuôi cá tra và cá ba sa thấp hoặc lỗ.


Ðề tài đã xây dựng được 4 quy trình công nghệ nuôi tôm sú ( Penaeus monodonFabricus 1798), cá ba sa ( Pangasius bocourtiSauvage, 1880) và cá tra ( Pangasianodon hypophthalmusSauvage, 1878) đảm bảo ATVSTP về các chỉ tiêu dư lượng kháng sinh (Chloramphenicol, Furazolidon, Furaltadon Nitrofurantion, Nitrofurazon, Oxytetracylin), độc tố nấm (aflatoxin), thuốc trừ sâu (Aldrin; Dieldrin; Endrin; DDT; Heptachlor; Chlordane; Benzen Hexachloride; Lindane; Polychlobiphenyl-PCB), kim loại nặng (chì, thủy ngân, Cadium), vi sinh vật (fecal coliform; E. coli; Salmonella; Staphylococcus; Vibrio) và ký sinh trùng (metacercaria Clonorchis; metacercaria Opisthorchis; ấu trùng Gnathostoma).


2. Sản phẩm khoa học công nghệ


2.1. Ðề tài đã tạo ra được 4 quy trình công nghệ


2.1.1. Quy trình nuôi tôm sú bán thâm canh đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, năng suất 1,5-2,5tấn/ha/vụ.


2.1.2. Quy trình nuôi tôm sú thâm canh đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, năng suất 3,5-4,5tấn/ha/vụ.


2.1.3. Quy trình nuôi cá ba sa và cá tra trong ao đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, năng suất 35-40tấn/ha/vụ (ở miền Bắc) và 150-200tấn/ha/vụ (ở miền Nam ).


2.1.4. Quy trình nuôi cá tra trong lồng/bè đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng năng suất 80-100kg/m3/vụ.


2.2. Các chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm


2.2.1. Tôm sú đạt 24 chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm: dư lượng thuốc kháng sinh - Chloramphenicol, Furazolidon, Furaltadon Nitrofurantion, Nitrofurazon, Oxytetracylin; độc tố nấm - aflatoxin; thuốc trừ sâu- Aldrin; Dieldrin, Endrin, DDT, Heptachlor, Chlordane, Benzen Hexachloride, Lindane, Polychlobiphenyl-PCB; kim loại nặng - chì, thủy ngân, Cadium và vi sinh vật- fecal coliform, E.coli, Vibrio parahaemolyticus, Staphylococcus aureus.


2.2.2. Cá ba sa và cá tra đạt 26 chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm: dư lượng thuốc kháng sinh - Chloramphenicol, Furazolidon, Furaltadon Nitrofurantion, Nitrofurazon, Oxytetracylin; độc tố nấm - aflatoxin; thuốc trừ sâu Aldrin, Dieldrin, Endrin, DDT, Heptachlor, Chlordane, Benzen Hexachloride, Lindane, Polychlobiphenyl-PCB; kim loại nặng - chì, thủy ngân, Cadium và vi sinh vật - fecal coliform, E.coli, Vibrio parahaemolyticus, Staphylococcus aureus; ký sinh trùng - ấu trùng Clonorchis, ấu trùng Opisthorchis, ấu trùng Gnathostoma.


2.3. Sản phẩm khoa học cụ thể


2.3.1. Chiết xuất thảo được (tỏi, sài đất, nhọ nồi) và phối chế được hai loại thuốc cho tôm cá : Thuốc phòng trị bệnh nhiễm khuẩn cho cá - VTS1-C; thuốc phòng trị bệnh nhiễm khuẩn cho tôm - VTS1-T


2.3.2. Ðiều chế hai loại vacxin vô hoạt: Vacxin (chủng A. hydrophila) - CT1 và Vacxin (hỗn hợp 3 chủng Aeromonas hydrophila, Edwardsiella, Hafnia alvei) VTS1 với tỷ lệ an toàn trên 90% và tỷ lệ bảo hộ trên 80% phòng bệnh xuất huyết, hoại tử nội tạng (đốm trắng) cho cá tra.


3. Kết quả ứng dụng vào sản xuất, sản phẩm hàng hóa tạo ra


3.1. Ðề tài đã thí nghiệm và ứng dụng vào sản xuất, sản xuất được 213 tấn tôm sú đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; 776 tấn cá ba sa và cá tra đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.


3.2. Chiết xuất thảo dược (tỏi, sài đất, nhọ nồi) và phối chế 235kg sản phẩm thuốc VTS1-C và VTS1-T phòng trị bệnh nhiễm khuẩn cho tôm cá.


3.3. Ðiều chế được 10 lít vacxin vô hoạt (1,5.109 tế bào/ml), phòng bệnh xuất huyết, hoại tử nội tạng (đốm trắng) cho Cá tra.


4. Hiệu quả kinh tế - xã hội


Trong ba năm (2003-2005) nghiên cứu thử nghiệm, Ðề tài đã xây dựng được 4 quy trình công nghệ nuôi tôm, cá đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, có ý nghĩa thúc đẩy phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững. Nếu các quy trình này được ứng dụng rộng rãi cho các địa phương sẽ tạo ra sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm cho nghề nuôi trồng thủy sản.


Ðề tài đã ứng dụng sản xuất 213 tấn tôm thương phẩm, giá thành trung bình 50.000đ/kg, trị giá 10.650 triệu đồng; 776 tấn cá Ba sa và cá Tra, giá thành trung bình 10.000đ/kg, trị giá 7.760 triệu đồng; thuốc phòng trị bệnh tôm cá 235kg, giá thành 400.000đ/kg, trị giá 94 triệu đồng. Tổng giá trị đề tài đã tạo ra trong ba năm là 18.504 triệu đồng.

Nguồn: Tạp chí Thuỷ sản, 17/1/2007

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng AI”
Sáng 17/8, tại phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo chuyên đề “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng thời đại trí tuệ nhân tạo AI”.
Đắk Lắk: Sức sáng tạo tuổi trẻ đối với hoạt động khoa học công nghệ
Ngay sau Đại hội Liên hiệp Hội tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2026–2031, hoạt động chuyên môn đầu tiên được triển khai là chấm sơ khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên và nhi đồng lần thứ I năm 2026. Với 170 mô hình tham gia, cuộc thi cho thấy sức sáng tạo phong phú của tuổi trẻ, nhất là ở những lĩnh vực gắn với công nghệ, phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội IX Liên hiệp Hội Việt Nam
Sáng 12-8, tại Hà Nội, Đoàn Chủ tịch và Hội đồng Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ 19 và Hội nghị Hội đồng Trung ương lần thứ 13 khóa VIII dưới hình thức trực tiếp và trực tuyến, nhằm tập trung rà soát, thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031
Quảng Trị: Tập huấn cập nhật kiến thức chăm sóc người bệnh
Ngày 11/8, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) tỉnh phối hợp với Hội Y học tỉnh tổ chức tập huấn “Cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh”, nhằm cập nhật kiến thức chuyên môn và y khoa mới, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh cho đội ngũ điều dưỡng.
Đại hội lần thứ nhất Liên hiệp Hội Việt Nam – Dấu mốc khai sinh mái nhà chung của trí thức khoa học và công nghệ
Ngày 26/3/1983, tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội thành lập Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được tổ chức. Từ dấu mốc lịch sử ấy, một tổ chức chung của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam chính thức hình thành, mở ra hành trình tập hợp, đoàn kết và phát huy trí tuệ của các nhà khoa học vì sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.