Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 13/05/2008 22:06 (GMT+7)

Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá Cóc

A. Mở đầu

Cá Cóc ( Cyclocheilichthys enoplosBleeker 1850) là một trong 8 loài thuộc giống Cyclocheilichthysđược định danh ở lưu vực sông Mê Kông (Rainboth, 1996).

Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, cá Cóc thường được khai thác trong tự nhiên trên sông Tiền, sông Hậu và các nhánh sông lớn khác. Cá ăn tạp, ăn nhiều loại thức ăn, cỡ cá lớn nhất được ghi nhận dài 74cm. Cá Cóc thịt thơm ngon, có giá cao và rất được ưa chuộng.

Trong tự nhiên, cá cóc có đặc tính di cư và đẻ trên sông Mê Kông, cá con đi vào các vùng ngập kiếm ăn và ngược ra sông vào mùa nước lớn. Cá Cóc đã được nuôi ghép trong ao, trong bè với các loài cá khác. Nguồn cá giống trước đây phải đánh bắt trong tự nhiên, từ các đống “chà” ven sông hoặc bằng lưới kéo. Theo thống kê điều tra gần đây, sản lượng cá thịt khai thác trong tự nhiên còn rất ít, chỉ còn khoảng 1/10 so với trước đây 30 năm và nguồn cá giống cũng giảm nghiêm trọng.

Cho đến nay, những nghiên cứu về loài này cũng còn khá khiêm tốn, các nghiên cứu về sinh học và sinh sản cũng còn rất hạn chế.

B. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt Nam Bộ (tỉnh Tiền Giang).

Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2002 đến năm 2005.

220 cá thể bố mẹ được thu bắt trong tự nhiên, dùng thuyền thông thủy (có khoang chứa nước lưu thông) để vận chuyển tới ao thuần dưỡng. Thời gian thuần dưỡng trong ao khoảng một tháng để cá quen dần với điều kiện nuôi nhốt trong ao nước tĩnh, sau đó đưa cá vào ao nuôi vỗ. Ao nuôi có diện tích 2.000m 2, mực nước sâu 1,1m, nước được thay đổi nhờ vào thủy triều (10 - 20% thể tích nước/ngày và 10 - 12 ngày/tháng). Thức ăn là 50% cám gạo và tấm, 50% bột cá (đã nấu chín). Lượng thức ăn hàng ngày bằng 2 – 3% trọng lượng cá. Trong 3 tháng đầu bổ sung bột huyết 0,2%, sau đó là ốc, cá vụn 0,5-1%.

Khảo sát một số chỉ tiêu sinh học, phân tích thức ăn trong ruột và xác định loại thức ăn, độ béo, tuyến sinh dục...

Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh sản của cá theo phương pháp của Pravdin (1972); Nghiên cứu phát triển tuyến sinh dục của cá theo Sakun và Buskaia (1982)

Theo dõi các yếu tố thủy hóa trong ao, trong bể ương ấp theo các phương pháp và thiết bị phân tích hiện hành.

Kích thích sinh sản nhân tạo bằng dùng đơn não thùy thể cá chép và kết hợp LH - RHa ( LutenizingHormone - Releasing hormone analog) với não thùy ở liều quyềt định. Liều lượng KDT cho cá đực bằng 1/3 của cá cái.

Ương cá bột lên cá hương trong bể xi măng mật độ 2.500-3.000 con/m 2; ương cá hương lên cá giống trong ao mật độ 45, 90, 180 con/m 2; ương cá bột trực tiếp lên cá giống trong ao mật độ 250 - 300 con/m 2.

Thức ăn cho cá bột là bột dinh dưỡng (20% sữa bột, 40% bột đậu nành, 40% bột gạo và vitamin A, C, D) và phù du động vật (moina sp.). Thức ăn cá hương lên cá giống là phù du động vật, kết hợp thức ăn nhân tạo (bột cá, bột đậu nành 300-500 gam/10.000 cá). Sau 10 ngày, cho ăn thức ăn chế biến (70% bột cá + 30% cám gạo) và tập cho ăn thức ăn viên dạng mảnh.

C. Kết quả nghiên cứu

I. Một số đặc điểm sinh học

- Thức ăn và tính ăn của cá trong tự nhiên

Tỷ lệ chiều dài ruột và chiều dài thân 1,37 ± 0,17. Độ no trong các tháng thu mẫu (4/2001 - 5/2002) 3 - 4 chiếm 66%, độ no 0 chiếm 6%.

Thành phần thức ăn trong ruột khá đa dạng: mùn bã hữu cơ 30%; động vật phù du và động vật đáy 39%; côn trùng, giáp xác 14,5%; thực vật phù du 65,5%. Có thể nói rằng cá cóc ăn tạp thiên về động vật.

- Đặc điểm sinh trưởng

Tương quan chiều dài và trọng lượng cá Cóc
Tương quan chiều dài và trọng lượng cá Cóc
Tương quan chiều dài (L) và trọng lượng (W) thể hiện ở phương trình W = 0,0119 L 3,0075. Giai đoạn còn nhỏ, cá tăng nhanh về chiều dài, sau đó tăng nhanh về trọng lượng.

- Đặc điểm sinh sản

Có thể phân biệt đực cái khi cá thành thục, cá cái có bụng to do buồng trứng phát triển, cá đực có tinh dịch chảy ra khi vuốt nhẹ lườn bụng.

Vào tháng 2 - 3, kích thước trứng còn nhỏ (0,3 - 0,5mm), tương ứng buồng trứng giai đoạn II - III. Tháng 4 kích thước trứng đạt 0,6mm, buồng trứng giai đoạn III và đạt tối đa vào tháng 5 - 6, đường kính trứng 0,9 - 1mm, buồng trứng đạt giai đoạn IV.

Hệ số thành thục đạt cao nhất từ 7,25 - 9,03% ở cá cái và 0,3 - 0,4% ở cá đực. Sức sinh sản tuyệt đối 149.980 ở cá cái 2,7kg (chiều dài 61,5cm);

Trứng cá Cóc thuộc loại hình trứng bán trôi nổi, sau khi thụ tinh và trương nước đạt kích thước 1,8 - 2mm. Thời gian phát triển phôi từ khi trứng thụ tinh đến khi cá bột nở là 14giờ 30 phút (nhiệt độ 29 0C).

II. Các yếu tố môi trường nuôi vỗ bố mẹ và ương cá giống

Nhiệt độ trung bình 28 - 30 0C, diễn biến nhiệt độ cao nhất từ tháng 3 đến tháng 6 và giảm dần các tháng cuối năm. pH dao động trong khoảng 6,8 - 8,2. Hàm lượng ôxy hòa tan (DO) trong ao nuôi vỗ thấp nhất vào sáng sớm các tháng 3; 4 và 5 (1,4 - 1,8mg/lít), cao nhất buổi trứa (9 - 1`2mg/lít). Chỉ số COD cao nhất vào các tháng 10 - 11 và tháng 5 - 6, thấp nhất các tháng 1 - 2 và tháng 9.

III. Sự thành thục của cá bố mẹ trong ao nuôi vỗ

Trong năm đầu tiên khi mới thuần dưỡng, thời gian thành thục của cá bố mẹ chậm và nhanh thoái hóa. Trong năm đầu tiên mới đạt tỷ lệ thành thục 60% cá cái và 80% cá đực. Vào đầu tháng 4 chỉ có 7% cá cái có trứng giai đoạn II - III. Tháng 5 đạt 40% và cao nhất là tháng 6 có tới 60% cá cái có trứng giai đoạn IV. Vào giữa tháng 7, đa số buồng trứng cá cái đã thoái hóa hoàn toàn.

Vào năm thứ 2 sau thuần dưỡng, tỷ lệ thành thục đã đạt 90% cá cái và 95% cá đực. Vào giữa tháng 2 đã có khoảng 5% cá cái có buồng trứng giai đoạn III, đa số giai đoạn II-III; 20% số cá đực có tinh dịch. Cuối tháng 3 có 50% cá đực có tinh dịch; 40% cá cái có buồng trứng giai đoạn III-IV. Cuối tháng 4 có 70% cá cái kiểm tra có trứng giai đoạn IV và 90% ở giữa tháng 5 với 30% số cá cái có trứng giai đoạn IV csẵn sàng tham gia sinh sản. Vào giữa tháng 8 trở đi, buồng trứng của đa số cá cái bắt đầu thoái hóa.

Từ năm thứ 3 sau thuần dưỡng, 100% cá bố mẹ đạt thành thục và đa số tham gia sinh sản.

Đàn cá hậu bị được nuôi từ cá con thế hệ F 1cũng có dấu hiệu thành thục khi được 2 năm tuổi. Khi cá F 1được 3 tuổi đã thành thục tốt, tham gia sinh sản có kết quả.

IV. Kết quả sinh sản, ương nuôi cá giống và nuôi thương phẩm

Kết quả thử nghiệm cho thấy sử dụng não thùy liều sơ bộ cho cá cái là 1-2,5mg/kg; liều quyết định 3-7,5mg/kg. Dùng kết hợp LH-RHa ( Lutenizing Hormone-Releasing hormone analog) với não thùy ở liều quyềt định là 1-3mg não thùy + 130-150mg LH-RHa trộn tương ứng với 5-7,5mg DOM. KDT dùng cho cá đực bằng 1/3 liều lượng của cá cái. Cá rụng trứng sau liều tiêm quyềt định từ 5-6 giờ.

Trong năm 2005, cá hậu bị lần đầu sinh sản cũng cho kết quả tốt với các chất kích thích sinh sản và não thùy liều lượng như trên.

Kết quả sinh sản cho thấy năm đầu tiên mới đưa vào thuần dưỡng, tỷ lệ cá thành thục thấp và khó sinh sản. Các năm tiếp theo do đàn cá ngày càng thích nghi trong điều kiện ao nước tĩnh nên tỷ lệ thành thục tăng dần và đạt đến 100% thành thục. Tỷ lệ cá rụng trứng tốt (róc) cũng tăng lên qua các năm. Từ năm 2002-2005, 78 cá cái sinh sản (177kg), có 59 cá rụng trứng (75,6%), thu được 4.2400.000 trứng, số cá bột 1.400.000 con. Sức sinh sản tương đối 17,6-55,5, trung bình 44,5 trứng/gam thể trọng.

Mật độ ương cá bột lên hương trong bể là 2.500-3.000 con/m 2, thời gian ương nuôi là 25 ngày đạt tỷ lệ sống 75,16-84,21%. Trong khi đó, nếu ương trong ao thì tăng trưởng nhanh hơn, đạt kích cỡ lớn hơn từ 20-30%.

Với thời gian ương 25-30 ngày, cá hương đạt cỡ 1,7-2cm. Ương từ cá bột lên cá giống mật độ 250-300 con/m 2, sau 50 ngày ương đạt cỡ 3,8-4cm, tỷ lệ sống từ 56-58,13%.

Nuôi thương phẩmcá cóc trong các loại hình nuôi như ao, bè, đăng quần. Sử dụng thức ăn chế biến và thức ăn công nghiệp đều thích hợp; hệ số thức ăn dao động từ 1,95-2,05 (thức ăn công nghiệp) và 3,30-4,85 cho thức ăn chế biến. Năng suất nuôi trong ao đạt từ 1,17-2,93 tấn/ha, trong bè 9,36-12,42 kg/m 3bè, nuôi ghép trong đăng quần sau 4 tháng đạt năng suất 0,45 tấn/ha.

Kết luận

- Cá Cóc là loài ăn tạp, thiên về động vật. Tương quan giữa chiều dài (L) và trọng lượng (W) theo phương trình W=0,00119L 3,0075

- Hệ số thành thục cá cái đạt tới 9,03%. Sức sinh sản tương đối 44,55 trứng/kg thể trọng. Cá cóc thành thục ở năm tuổi thứ 2 và sinh sản có hiệu quả ở năm tuổi thứ 3. Mùa vụ sinh sản tập trung vào tháng 5-8

- Sử dụng não thùy cá và LH-RHa để kích thích sinh sản có hiệu quả. Thời gian phát triển phôi là 14 giờ 30 phút ở nhiệt độ nước 29 0C.

- Ương nuôi cá bột lên hương trong bể xi măng hoặc ương trực tiếp cá bột lên cá giống trong ao đất đều đạt kết quả. Tỷ lệ sống ương trong bể xi măng đạt 75,16-84,21%. Tỷ lệ sống ương trong ao đạt 56-58,13%.

- Có thể nuôi thương phẩm cá cóc trong ao, bè, đăng quần với thức ăn chế biến và thức ăn công nghiệp.


Nguồn: Thông tin KHCN & Kinh tế thủy sản, số 11/2007

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.