Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 18/10/2006 14:12 (GMT+7)

Nghiên cứu khoa học phục vụ xây dựng chính sách kinh tế - Những vấn đề đặt ra

Bằng chứng về những thành tựu của Việt Nam trong quá trình đổi mới kinh tế những năm vừa qua đã khẳng định sự đóng góp của NCKH trong xây dựng/hoạch định chính sách. Tuy nhiên, trong vấn đề này cũng chứa đựng một số bất cập cần khắc phục.

Quan niệm về vai trò của NCKH trong phát triển kinh tế

Ở nước ta, vai trò của NCKH trong xây dựng chính sách phát triển nói chung và phát triển kinh tế nói riêng đã được quy định trong một số văn bản luật. Luật Khoa học và Công nghệ đã quy định, khoa học và công nghệ phải là căn cứ, là một nội dung quan trọng trong việc xây dựng, thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội. Chính phủ cũng yêu cầu các dự án đầu tư bắt buộc phải được thẩm định nội dung khoa học.

Xây dựng chính sách được hiểu là quá trình từ việc xác định vấn đề đến khi chính sách được ban hành và cả giai đoạn đánh giá chính sách sau khi nó được thực hiện. Có thể phác họa quy trình xây dựng chính sách nói chung, chính sách phát triển kinh tế nói riêng như sơ đồ.

Trong đó, xác định vấn đề là bước ban đầu quan trọng của quy trình xây dựng chính sách (phải trả lời câu hỏi: Những vấn đề kinh tế nào đang tồn tại cần giải quyết? Phải ban hành chính sáchmới hay chỉ sửa đổi, bổ sung). Phân tích vấn đề sẽ thực hiện việc phân tích những vấn đề cần phải giải quyết, đánh giá lại chính sách (nếu là sửa đổi, bổ sung)… Hình thành nội dung chính sách sẽ nêura vấn đề cần giải quyết là gì? Mục đích của chính sách là gì? Các giải pháp hỗ trợ cho việc đạt mục tiêu đề ra, những yêu cầu, điều kiện và nguồn lực cần có để thực hiện chính sách là gì? Ban hành(phê duyệt) chính sách là bước để các cơ quan quyền lực có liên quan thể chể hoá chính sách thông qua việc ban hành văn bản pháp quy theo trình tự của pháp luật. Sau khi chính sách được đưa vào thựctiễn sẽ là bước đánh giá chính sách, nội dung là xem chính sách ban hành có đảm bảo thực thi không, có đạt được mục tiêu đặt ra cho nó không, vì sao chưa được thực thi hiệu quả, những vấn đề đangvướng mắc… Trong các bước của quá trình xây dựng chính sách nêu trên, NCKH tham gia nhiều nhất vào 3 giai đoạn: Xác định vấn đề, phân tích vấn đề, đánh giá chính sách, và ngay cả các giai đoạn hìnhthành nội dung chính sách và ban hành chính sách, NCKH cũng có thể tham gia các ý kiến phản biện để đảm bảo tính khách quan, phù hợp của chính sách mới được hình thành hoặc ban hành.

Một số đóng góp cơ bản

Trước hết, có thể khẳng định NCKH ở nước ta đã và đang có nhiều đóng góp quan trọng đối với quá trình xây dựng chính sách nói chung, chính sách kinh tế nói riêng. Thông thường, ở nhiều nước, cơ quan hành chính nhà nước là đơn vị thực hiện việc hình thành nội dung chính sách, còn ở nước ta, nhiệm vụ này lại do các cơ quan NCKH. Cụ thể, các nhiệm vụ hàng năm của các cơ quan nghiên cứu ở nước ta được xác định dựa trên nhu cầu nghiên cứu các chính sách của Đảng và Nhà nước (dựa trên các Văn kiện đại hội Đảng, kế hoạch hoạt động hàng năm của Chính phủ hoặc những yêu cầu trực tiếp của các cơ quan nhà nước…). Trên cơ sở những nghiên cứu của mình, các cơ quan nghiên cứu đã đưa ra những gợi ý về chính sách nhằm triển khai các nhiệm vụ để đạt được các mục tiêu đặt ra của Nhà nước. Do vậy, có thể nói, kết quả nghiên cứu của các cơ quan nghiên cứu ở nước ta đã góp phần thể chế hoá đường lối và chính sách nhà nước.

Trên thực tế, NCKH ở Việt Nam chủ yếu được thực hiện ở các viện nghiên cứu và các trường đại học. Hiện nay, Việt Nam có hơn 1.200 tổ chức khoa học và công nghệ, trong đó có gần 700 tổ chức NCKH của Nhà nước (bao gồm các viện trực thuộc các bộ, ngành, các trường đại học và cao đẳng), còn lại là thuộc tư nhân và các tổ chức chính trị, xã hội. Trong đó, số tổ chức khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực kinh tế chiếm tỷ trọng không nhỏ.

Ngoài ra, NCKH còn thể hiện vai trò trong hoạch định chính sách kinh tế qua nhiều kênh khác nhau. Đóng góp trực tiếp nhất là vai trò của các viện nghiên cứu thuộc các bộ, ngành. Nhiều chính sách kinh tế do các bộ, ngành chịu trách nhiệm xây dựng được trực tiếp soạn thảo bởi các viện nghiên cứu. Ví dụ, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong thời gian qua đã giúp Bộ chủ quản trực tiếp soạn thảo nhiều văn bản luật trong lĩnh vực Bộ phụ trách như: Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Hợp tác xã, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước và nhiều văn bản dưới luật khác. Một kênh khác rất quan trọng mà NCKH đóng góp vào quá trình hoạch định chính sách là việc thực hiện các đề tài, hội thảo khoa học, thông qua các diễn đàn trao đổi, đóng góp cho xây dựng chính sách trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hàng năm, hàng trăm đề tài NCKH thuộc lĩnh vực kinh tế do các viện nghiên cứu, trường đại học được thực hiện. Mặc dù còn nhiều ý kiến chưa thống nhất về khả năng ứng dụng và tính thực tiễn của các kết quả nghiên cứu này nhưng một thực tế không thể phủ nhận là các kết quả đó đã phần nào cung cấp những gợi ý chính sách bổ ích để các cơ quan hoạch định chính sách kinh tế đưa vào nội dung chính sách.

Những hạn chế

Thứ nhất, sức sáng tạo, sự tìm tòi của các nhà nghiên cứu và các tổ chức nghiên cứu ở nước ta chưa được phát huy ở mức cao nhất. Đây là yếu tố giải thích tại sao NCKH chưa đóng góp nhiều cho giai đoạn xác định vấn đề trong quá trình xây dựng chính sách kinh tế. Các cơ quan nghiên cứu hiện nay chủ yếu tham gia vào quá trình “giải thích” các chủ trương, đường lối của Đảng, triển khai các kế hoạch của Nhà nước hơn là phát hiện, chỉ ra những vấn đề mang tính chiến lược, mới, có tính hóc búa để giúp Đảng và Nhà nước hình thành những định hướng lớn trong phát triển kinh tế. Việc các cơ quan nghiên cứu đề xuất những vấn đề chính sách đối với các cơ quan quản lý nhà nước còn rất hạn chế. Những tư tưởng lớn mang tính quyết định đến việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế của đất nước vẫn chưa được các cơ quan nghiên cứu tìm ra những lời giải thích đáng như: Nội hàm của phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là như thế nào; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khác gì với nền kinh tế khác như thế nào; vai trò của doanh nghiệp nhà nước thực chất là gì và phải làm gì để đạt được điều đó…

Nguyên nhân của vấn đề xuất phát từ cách thức định hướng sử dụng các nhà nghiên cứu, cơ quan nghiên cứu của các nhà hoạch định chính sách. Bản thân các nhà hoạch định chính sách thường chỉ dừng ở việc đòi hỏi các cơ quan khoa học nghiên cứu các vấn đề nhằm thể chế hoá và hiện thực hoá chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước; hoặc là, yêu cầu phát hiện và đề xuất những vấn đề mới, hóc búa của các cơ quan này đối với cộng đồng nghiên cứu chưa cao, chưa gay gắt và thậm chí chưa được quan tâm đúng mức. Hiện nay, trong cộng đồng khoa học còn có tâm lý e ngại khi đề cập đến vấn đề được coi là “mới” hay là các vấn đề mang tính chất “nhạy cảm”.

Thứ hai, sự độc lập, tính khách quan và tính ưu việt của các kết quả NCKH đóng góp cho hoạch định chính sách kinh tế không phải lúc nào cũng được đảm bảo. Những đề xuất chính sách của các cơ quan nghiên cứu nhiều khi còn bị áp đặt, ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách và lợi ích mang lại cho toàn bộ nền kinh tế. Điều này một phần là do mối quan hệ phụ thuộc giữa cơ quan nghiên cứu và cơ quan hoạch định chính sách (nhiều viện nghiên cứu trực thuộc các bộ, ngành lại tư vấn cho các bộ, ngành nên không tránh khỏi những ảnh hưởng nhất định từ cơ chế chủ quản đó). Mặt khác, yêu cầu về tính độc lập và tính khách quan trong quá trình tư vấn chính sách cũng chưa đặt ra một cách nghiêm túc. Bên cạnh đó, mức độ cạnh tranh và cơ chế cọ sát, kiểm định các kết quả nghiên cứu ở nước ta hiện nay còn yếu… Điều đó xuất phát từ đặc điểm tổ chức của các cơ quan nghiên cứu và tư vấn chính sách, một vấn đề hầu như đều giao cho một cơ quan nghiên cứu thực hiện, hiếm trường hợp nhiều đơn vị cùng nghiên cứu một vấn đề để tìm ra lời giải tối ưu nhất…

Thứ ba, khả năng đáp ứng nhu cầu của các cơ quan hoạch định chính sách chưa cao, còn xảy ra tình trạng lãng phí nguồn lực ở nhiều cơ quan nghiên cứu, hoặc nghiên cứu những vấn đề không có giá trị thực tiễn, hoặc chưa chuyển đổi các kết quả nghiên cứu dưới dạng đáp ứng nhu cầu sử dụng của các nhà hoạch định chính sách. Vẫn có hiện tượng khi các bộ, ngành không cần ý kiến tư vấn chính sách thì các cơ quan thực hiện nghiên cứu rất công phu, lại có lúc các bộ, ngành cần ý kiến tư vấn thì các viện lại không đáp ứng được. Nguyên nhân một phần là do cơ chế quản lý và cấp phát trong nghiên cứu đã tạo ra “tính ỳ” cho các cơ quan nghiên cứu này. Mặt khác, môi trường cạnh tranh trong việc tư vấn chính sách kinh tế chưa cao, do đó, chưa buộc các cơ quan nghiên cứu trong nước phải thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình.

Thứ tư, cách thức huy động lực lượng nghiên cứu cho quá trình xây dựng chính sách chưa có một kế hoạch dài hơi mà một phần là do cách thức ban hành chính sách. Trong khi để có thể nghiên cứu một vấn đề chính sách thấu đáo, một trong những điều kiện quan trọng là có một khoảng thời gian nhất định thì trong nhiều trường hợp, thời gian mà các nhà hoạch định chính sách đặt ra cho các nhà nghiên cứu xây dựng chính sách lại thường rất ngắn. Do vậy, các sản phẩm khoa học thường không đáp ứng yêu cầu đặt ra hoặc là thiếu hoàn hảo. Bên cạnh đó, đánh giá chính sách là một khâu rất quan trọng để đảm bảo có những chính sách kinh tế đúng đắn và hợp lý, thế nhưng, hiện nay, việc này ở nước ta chưa được coi trọng đúng mức. Nhiều chính sách được thực hiện nhưng không được đánh giá; do vậy, không có những điều chỉnh kịp thời. Điều này rất nguy hại bởi vì một chính sách thường chỉ có thể phù hợp trong một giai đoạn và hoàn cảnh nhất định nào đó chứ không phù hợp mãi mãi.

Thứ năm, thông tin đóng vai trò quan trọng trong NCKH, nhưng ở nước ta, hoạt động này còn nhiều bất cập, vừa thiếu, vừa khó tiếp cận. Có trường hợp, nhà khoa học cần phân tích vấn đề theo phương pháp hiện đại nhưng do thiếu thông tin (chính thống) nên không thể thực hiện được. Thêm vào đó, Luật Thống kê mặc dù đã có hiệu lực nhưng việc tiếp cận thông tin chính thức phục vụ nghiên cứu còn rất khó khăn. Hiện nay, chúng ta chưa có chế độ “minh bạch” hợp lý để các nhà kinh tế tiếp cận thông tin một cách dễ dàng. Hơn nữa, tính hệ thống, đầy đủ và tin cậy của thông tin chính thống, kể cả của Tổng cục Thống kê, vẫn còn nhiều hạn chế.

Trên đây là những mặt mạnh cũng như những vấn đề còn tồn tại của NCKH phục vụ cho việc hoạch định các chính sách kinh tế. Nếu những hạn chế nêu trên được khắc phục và những mặt mạnh tiếp tục được phát huy thì trong tương lai, NCKH chắc chắn sẽ phát huy được mạnh mẽ vai trò của nó đối với việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế đất nước.

Nguồn: Tạp chí Hoạt động khoa học, 09/2006

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.
VUSTA tổ chức gặp mặt cán bộ hưu trí nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 4/2, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức buổi gặp mặt cán bộ hưu trí nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026. Đây là hoạt động thường niên của VUSTA nhằm bày tỏ sự tri ân sâu sắc đối với các thế hệ đi trước - những người đã có những cống hiến tâm huyết cho sự lớn mạnh của “ngôi nhà chung của đội ngũ trí thức KH&CN Việt Nam”.