Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 18/01/2011 19:32 (GMT+7)

Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến ngành trồng trọt và đề xuất giải pháp thích ứng

1. Đánh giá tác động tiêu cực của BĐKH đến trồng trọt

1.1. Sơ bộ về BĐKH

Theo IPCC (2007), BĐKH là những thay đổi thời gian của khí hậu, trong đó bao gồm cả những biến đổi tự nhiên và những biến đổi do con người tạo ra. BĐKH xuất phát từ mất cân bằng năng lượng của trái đất do thay đổi nồng độ các khí nhà kính, nồng độ bụi trong khí quyển và lượng bức xạ mặt trời. Biểu hiện cụ thể của BĐKH là:

- Sự nóng lên của nhiệt độ bề mặt trái đất hay còn gọi là hiện tượng nóng lên toàn cầu.

- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất.

- Sự dâng cao mực nước biển do băng tan dẫn tới ngập úng ở những vùng đất thấp.

- Sự di chuyển của các đới khí hậu đang tồn tại đến các vùng khác nhau trên thế giới dẫn đến nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người.

- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác.

- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thủy quyển, sinh quyển và địa quyển.

Như vậy có thể thấy BĐKH đang và sẽ ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực cảu đời sống con người và sinh vật trên trái đất trong tương lai.

1.2 Ngành trồng trọt sẽ chịu tác động như thế nào?

- Diện tích gieo trồng bị thu hẹp, đất đồng bằng bị nhiễm mặn:

Nước biển dâng cao sẽ khiến cho nhiều vùng đất ven biển, khu vực đồng bằng bị nhiễm mặn, diện tích gieo trồng sẽ bị thu hẹp gây ra hiện tượng thiếu đất canh tác, đảm bảo an ninh lương thực sẽ trở thành gánh nặng cho mọi quốc gia. Ở nước ta, theo dự báo IPCC (2007), nếu nước biển dâng lên 1m sẽ có khả năng ảnh hưởng tới 12% diện tích và 10% dân số Việt Nam, làm ngập 5.000 km2 ở Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và 15.000 - 20.000 km2 ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tương đương với 300.000 - 500.000 ha tại ĐBSH và 1,5 - 2 triệu ha tại ĐBSCL và hàng trăm ngàn ha ven biển miền Trung, ước tính Việt Nam sẽ mất đi rất nhiều diện tích đất nông nghiệp và ảnh hưởng đến an ninh lương thực (ANLT) quốc gia.

Theo “Kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam” do Bộ Tài nguyên Môi trường công bố tháng 6 - 2009: nếu tính toán theo kịch bản phác thải thấp, trung bình và cao cho thấy mực nước biển có thể dâng thêm 28 - 33cm vào giữa thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 (Bảng1).

Bảng 1. Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980 - 1999

Kịch bản

Các mốc thời gian của thế kỷ 21

2020

2030

2040

2050

2060

2070

2080

2090

2100

Thấp (B1)

11

17

23

28

35

42

50

57

65

Trung bình (B2)

12

17

23

30

37

46

54

64

75

Cao (A1F1)

12

17

24

33

44

57

71

86

100

Cũng theo kịch bản này, trong trường hợp nước biển dâng 75 cm và 100 cm, Tp HCM sẽ bị ngập 10% và 23% diện tích; ĐBSCL sẽ ngập tương ứng là 19% và 37,8% diện tích.

- Làm giảm năng suất cây trồng dẫn đến nguy cơ mất an ninh lương thực:

Báo cáo đánh giá của IPCC về tác động của BĐKH lên cây lương thực cho thấy ở vùng nhiệt đới, nhiệt độ trung bình tăng lên sẽ ảnh hưởng xấu tới năng suất do ảnh hưởng trực tiếp đến thời kỳ nở hoa, thụ phấn (1 0C đối với lúa mỳ và ngô, 2 0C đối với lúa nước), nếu tăng lên 3 0C sẽ gây ra tình trạng cực kỳ căng thẳng cho tất cả các loại cây trồng ở tất cả các vùng. Nhiệt độ tăng 1 0C sẽ làm giảm năng suất ngô từ 5 - 20% và có thể giảm đến 60% nếu nhiệt độ tăng thêm 4 0C. Tương tự, năng suất lúa có thể giảm 10% đối với mỗi độ tăng lên. Các cây trồng khác cũng sẽ chịu tác động tương tự của BĐKH, nhất là các cây ăn quả á nhiệt đới như vải, nhãn. Năng suất các loại cây này có khả năng giảm đáng kể khi nhiệt độ mùa đông tăng cao. Nhiệt độ tăng cũng làm cho tính bất dục đực của các dòng mẹ lúa lai hệ 2 dòng hệ TGMS bị đảo lộn, việc sản xuất hạt giống lúa lai F1 sẽ gặp khó khăn hơn.

Theo kịch bản phát thải thấp, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam vào cuối thế kỷ 21 sẽ tăng lên từ 1,6 - 2,8 0C ở các vùng sinh thái so với thời kỳ 1980 - 1999 (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009).

- BĐKH gây đảo lộn cơ cấu cây trồng: nhiệt độ tăng làm thay đổi thời gian sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng, làm thay đổi quy luật phân hóa mầm hoa và nở hoa và do đó làm giảm khả năng luân canh, tăng vụ và đảo lộn cơ cấu các loại cây trồng, đặc biệt là những cây trồng ưa lạnh ở vụ đông và cây á nhiệt đới như đào, mận, mơ…

- Nhu cầu nước tăng cao dẫn đến thiếu hụt nước cho cây trồng:

Nhiệt độ tăng khiến cho nhu cầu tưới nước lớn và dẫn đến thiếu hụt nguồn nước sử dụng cho trồng trọt. Trong điều kiện nhiệt độ tăng lên 10 0C thì nhu cầu tưới nước cho cây trồng sẽ tăng 10% làm cho năng lực tưới của các công trình thủy lợi như hiện nay không đáp ứng đủ (IPCC, 2007).

- Thời tiết thay đổi thất thường dẫn đến hạn hán và làm tăng nguy cơ xuất hiện các loài dịch bệnh:

BĐKH cũng làm thay đổi quy luật thủy văn của các con sông, gây nên hiện tượng hạn hán. Ví dụ điển hình là các tỉnh ĐBSH đã phải gánh chịu hiện tượng thiếu nước trầm trọng ở vụ Đông Xuân trong 5 năm qua do mực nước sông Hồng xuống thấp dưới mức thấp nhất trong lịch sử 100 năm qua. Ví dụ thứ 2 là hiện tượng mùa đông ấm ở miền Bắc trong 3 - 4 năm trở lại đây, tiếp tục biểu hiện rõ trong năm 2009. Sự biến đổi về đất đai, nguồn nước, nhiệt độ sẽ kéo theo sự thay đổi về cơ cấu cây trồng và mùa vụ trong tương lai mà chúng ta cần nghiên cứu tác động để từ đó xây dựng chiến lược đối phó thích hợp.

BĐKH làm thay đổi điều kiện sinh sống của các loại sinh vật, làm mất đi hoặc thay đổi các mắt xích trong chuỗi thức ăn và lưới thức ăn dẫn đến tình trạng biến mất của một số loài sinh vật và ngược lại xuất hiện nguy cơ gia tăng các loại thiên dịch. Nhiệt độ tăng trong mùa đông sẽ tạo điều kiện cho nguồn sâu có khả năng phát triển nhanh hơn và gây hại mạnh hơn. BĐKH cũng có thể làm phát sinh một số chủng, nòi sâu mới, gây hại không những trong sản xuất mà còn trong bảo quản nông sản, thực phẩm.

Trong thời gian 2 năm trở lại đây, dịch rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá ở ĐBSCL diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng đến khả năng thâm canh, tăng vụ và làm giảm sản lượng nghiêm trọng ở một số vùng. Ở miền Bắc trong vụ Đông Xuân 2007 - 2008, sâu quấn lá nhỏ cũng đã phát sinh thành dịch, thời điểm cao diện tích lúa bị hại đã lên đến 400.000 ha, gây thiệt hại đáng kể đến năng suất lúa và làm tăng chi phí sản xuất. Vụ mùa năm 2009, Miền Bắc cũng đã bắt đầu xuất hiện một số bệnh lạ trên lúa, tương tự như bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá ở ĐBSCL, riêng Nghệ An diện tích lúa bị hại đã lên đến gần 6000 ha (Cục Trồng trọt, 2009).

- Hiện tượng thời tiết diễn biến cực đoan có xu hướng ngày càng gia tăng, gây bất lợi rất lớn đến sản xuất nông nghiệp:

Theo các báo cáo của Ban chỉ đạo phòng, chống lụt bão TƯ, trong 3 năm (2005 - 2007), số cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp ngày càng gia tăng. Vụ mùa năm 2005, bão đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến 150.000 ha lúa; năm 2006, đã có khoảng 200.000 ha lúa phải gieo cấy lại. Các năm 2004 - 2005, tình trạng khô hạn gay gắt ở miền Trung - Tây Nguyên gây thiệt hại nặng cho sản xuất trồng trọt; thiếu nước sinh hoạt cho người và gia súc. Năm 2007, 5 trận lũ lụt liên tiếp xảy ra ở miền Trung đã làm thiệt hại đáng kể đến sản xuất nông nghiệp.

Theo số liệu công bố tại Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH (Bộ Tài nguyên Môi trường, năm 2008), số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến nước ta đã giảm đi rõ rệt trông 2 thập kỷ qua nhưng những biểu hiện dị thường lại xuất hiện. Biểu hiện rõ nhất là đợt rét lịch sử kéo dài 38 ngày đã xảy ra ở vụ Đông Xuân 2007 - 2008 đã làm chết 200.000 ha lúa mới cấy, gần 20.000 ha mạ bị chết phải gieo lại, làm chết 137.000 con trâu, bò và ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng, phát triển của hàng nghìn ha cây trồng và hàng triệu vật nuôi.. Có thể nói thiệt hại về vật chất do đợt rét là rất lớn. Các xu hướng thời tiết như các cơn bão ảnh hưởng đến nước ta không theo quy luật hoặc tác động của gió màu đông bắc vượt qua đèo Hải Vân đến các tỉnh phía Nam… đã và đang ngày càng rõ nét.

2. Đề xuất một số giải pháp

Để chủ động né tránh, thích ứng và khắc phục có hiệu quả tác động của BĐKH, cần phải có các giải pháp đối với lĩnh vực nông nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng. Từ những kết quả nghiên cứu, đánh giá có được, tôi đề xuất những giải pháp chủ yếu sau đây:

2.1 Nâng cao nhận thức

- Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng và các hội thảo về BĐKH về các nguy cơ của BĐKH trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng để nâng cao ý thức và tạo tâm lý chủ động phòng tránh và thích ứng với BĐKH.

- Xây dựng chương trình đào tạo, tập huấn cho các cán bộ quản lý, nhà khoa học và người sản xuất về tác động của BĐKH, những định hướng và chủ trương của Bộ Nông nghiệp và PTNT đối với lĩnh vực sản xuất trồng trọt để thích ứng với BĐKH.

2.2 Nâng cao năng lực của cơ quan quản lý và cơ quan nghiên cứu

- Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ và hiểu biết sâu rộng về BĐKH và tác động tới ngành nông nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng ở các cơ quan đầu ngành, các cơ quan quản lý, các viện nghiên cứu, trường đại học, các tổ chức khuyến nông;

- Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, đánh giá tác động bất lợi của các biểu hiện của BĐKH đến sản xuất trồng trọt làm cơ sở cho những sáng kiến, quyết định và giải pháp kịp thời trong sản xuất.

- Ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến trong thu thập và xử lý số liệu; Thiết lập cơ sở dữ liệu, mạng lưới thông tin và trao đổi thông tin giữa các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và các đơn vị thực hiện để cảnh báo sớm và chính xác các nguy cơ đối với cây trồng qua đó tìm giải pháp hữu hiệu cho ngành trồng trọt tiếp tục phát triển. Đặc biệt cần theo dõi, đánh giá và dự báo ảnh hưởng của nước biển dâng đến diện tích đất trồng cây các loại làm cơ sở bố trí và chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích hợp.

2.3 Nghiên cứu, đánh giá tác động của BĐKH đến ngành trồng trọt để làm cơ sở xây dựng các biện pháp chủ động ứng phó

- Nghiên cứu đánh giá tác động của hiện tượng nước biển dâng đến sự biến đổi các đặc tính lý, hóa của đất nông nghiệp, đặc biệt là đất lúa của những vùng bị ảnh hưởng làm cơ sở cho việc bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý, giảm thiểu tác động tiêu cực của việc xâm nhập mặn.

- Đánh giá, phân tích tác động của các yếu tố thời tiết cực đoan đến sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng để làm cơ sở chủ động né tránh và thích ứng. Xây dựng các bản đồ: hạn hán, xâm nhập mặn, phân bố lượng mưa… làm cơ sở để bố trí, chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý, thích ứng với BĐKH.

- Xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu tác động của BĐKH đến ngành trồng trọt để phục vụ mục tiêu lâu dài của công tác giảm thiểu và thích ứng cây trồng với BĐKH.

2.4 Rà soát điều chỉnh quy hoạch đất đai và bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý

- Trên cơ sở dự tính dự báo về ảnh hưởng của BĐKH, cần tiến hành và rà soát các nguồn tài nguyên đất hiện có, qua đó điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch các vùng sản xuất cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả cho phù hợp với tác động của BĐKH trên tất cả các vùng, miền với tiêu chí đảm bảo vững chắc ANTL cho con người, sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên đất, nước.

- Trên cơ sở rà soát, điều chỉnh đất đai cần có phương án chủ động bố trí cơ cấu cây trồng, mùa vụ hợp lý để né tránh tác động của BĐKH:

+ Đối với vùng cao hạn chuyển sang trông các loại cây trồng cạn, giống chịu hạn để giảm áo lực về nước tưới.

+ Đối với vùng ngập: sử dụng các loại/ giống cây trồng chịu úng, phèn, mặn…

2.5 Nghiên cứu, phát triển giống mới

- BĐKH sẽ gây ra các biến đổi bất lợi cho sản xuất nông nghiệp như hiện tượng dâng cao của nước biển (nước mặn xâm nhập) vào diện tích gieo trồng hiện có; thiếu hụt nguồn nước tưới bởi hạn hán; xói mòn, thoái hóa đất… do vậy cần chú trọng hơn vào công tác nghiên cứu và phát triển các giống cây trồng mới có năng suất cao, thích nghi với điều kiện canh tác mới.

Việc chọn tạo giống cây trồng mới trong điều kiện BĐKH theo các hướng sau:

+ Giống ưu thế lai có sức sinh trưởng khỏe, chống chịu ngoại cảnh tốt.

+ Chịu hạn, có khả năng sử dụng tiết kiệm nước.

+ Chịu mặn.

+ Chống chịu sâu bệnh tốt.

+ Chịu nóng hoặc chịu lạnh.

+ Có thời gian sinh trưởng ngắn để có thể tăng vụ, chuyển vụ, né tránh thiên tai.

+ Khả năng thích ứng rộng, năng suất ổn định.

- Tăng cường nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học, trao đổi quốc tế tài nguyên di truyền thực vật, duy trì và chọn lọc các nguồn gen cây trồng bản địa để tạo ra những giống cây trồng có những tính trạng mong muốn, chống chịu được các stress sinh học, phù hợp điều kiện và cơ cấu gieo trồng của các khu vực chịu tác động của BĐKH, nhất là vùng ĐBSCL.

- Hình thành, phát triển và thực hiện chương trình quốc gia về chọn tạo, khảo nghiệm giống cây trồng mới, thích ứng với BĐKH.

2.6 Nghiên cứu, phát triển kỹ thuật trồng trọt thích ứng với BĐKH

- Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ và phương thức canh tác mới thích ứng với BĐKH (hạn hán, rét đậm, ấm, úng ngập và nhiễm mặn).

- Nghiên cứu các biện pháp canh tác, chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sử dụng ít nước hơn, chịu hạn hơn, xen canh/ luân canh với cây trồng có khả năng che phủ đất và cải tạo đất. Cần nghiên cứu, thử nghiệm giống ngắn/ dài ngày để né tránh thiên tai, đặc biệt là hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn ở những vùng có nguy cơ chịu tác động mạnh.

- Nghiên cứu sản xuất các loại phân bón, các chế phẩm bằng tăng cường khả năng chống chịu của cây trồng đối với ngoại cảnh bất thuận.

2.7 Chuyển giao và ứng dụng giống và công nghệ sản xuất mới

Đẩy mạnh công tác khuyến nông, chuyển giao tiến bộ KHKT về giống mới, kỹ thuật sản xuất mới cho nông dân, nhất là những nơi có khả năng chịu ảnh hưởng trực tiếp của BĐKH.

2.8 Xây dựng cơ chế chính sách

- Rà soát, bổ sung và xây dựng mới các văn bản pháp luật, xây dựng các chính sách về nông nghiệp, nông thôn và nông dân theo hướng hỗ trợ để chủ động ứng phó và khắc phục hậu quả của BĐKH. Đặc biệt là chính sách quản lý, sử dụng tài nguyên đất, nước, chính sách ANLT, chính sách chuyển đổi cơ cấu sản xuất thích ứng với BĐKH, chính sách bảo hiểm nông nghiệp…

- Xây dựng các cơ chế chính sách nghiên cứu, bảo vệ và sử dụng các nguồn gen địa phương, bản địa quý hiếm phục vụ công tác chọn giống cây trồng thích ứng với BĐKH.

2.9 Hợp tác quốc tế

- Mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực BĐKH, thiết lập các kênh trao đổi thông tin, hợp tác song phương, đa phương; nhập nội công nghệ, nguồn vật liệu chọn giống cây trồng thích ứng với BĐKH.

- Đề xuất Danh mục các dự án ưu tiên kêu gọi tài trợ của các tổ chức, nhà tài trợ quốc tế.

3. Kết luận

- BĐKH đã và đang tác động nhiều mặt đến ngành nông nghiệp, những tác động tiêu cực của BĐKH đến lĩnh vực trồng trọt chủ yếu là (i) Nước biển dâng làm cho diện tích đất sản xuất bị thu hẹp, đặc biệt là khu vực ĐBSCL, ĐBSH và ven biển miền Trung nước ta, hệ lụy là nguy cơ mất ANLT; (ii) nhiệt độ tăng làm thay đổi quy luật sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng dẫn đến đảo lộn cơ cấu cây trồng như truyền thống; nhiệt độ tăng cũng làm cho cây trồng giảm năng suất, sản lượng nông nghiệp giảm sút; (iii) BĐKH làm tăng hiện tượng thời tiết cực đoan, dị thường ảnh hưởng xấu đến sản xuất trồng trọt và (iv) BĐKH tạo điều kiện phát sinh sâu bệnh mới gây hại cây trồng.

- Trong thời gian qua đã có một số chương trình, dự án phát triển sản xuất có tính đến điều kiện bất thuận và BĐKH nhưng chưa dài hơi và tập trung cho việc ứng phó với BĐKH.

- Một số giải pháp, chương trình, dự án được đề xuất để ứng phó và giảm thiểu tác động tiêu cực của BĐKH trong lĩnh vực trồng trọt cần tập trung vào (i) nghiên cứu, phát triển giống mới, kỹ thuật trồng trọt, BVTV trong điều kiện BĐKH; (ii) đánh giá ảnh hưởng của BĐKH, nước biển dâng đến đất nông nghiệp làm cơ sở cho quy hoạch, chuyển đổi cơ cấu cây trồng; (iii) phát triển hệ thống canh tác lúa bền vững ở những vùng nguy cơ cao và (iv) xây dựng cơ sở dữ liệu để dự báo sớm những tác động tiêu cực của BĐKH đến trồng trọt.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

5 nhà khoa học của Liên hiệp Hội Việt Nam được tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” năm 2026
Sáng 2/10/2026, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức Chương trình tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” lần thứ VII và trao giải Cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật Nhà nông” toàn quốc lần thứ XI năm 2026. Trong số 42 cá nhân được tôn vinh năm nay có 5 nhà khoa học do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu.
Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.