Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 18/01/2011 19:32 (GMT+7)

Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến ngành trồng trọt và đề xuất giải pháp thích ứng

1. Đánh giá tác động tiêu cực của BĐKH đến trồng trọt

1.1. Sơ bộ về BĐKH

Theo IPCC (2007), BĐKH là những thay đổi thời gian của khí hậu, trong đó bao gồm cả những biến đổi tự nhiên và những biến đổi do con người tạo ra. BĐKH xuất phát từ mất cân bằng năng lượng của trái đất do thay đổi nồng độ các khí nhà kính, nồng độ bụi trong khí quyển và lượng bức xạ mặt trời. Biểu hiện cụ thể của BĐKH là:

- Sự nóng lên của nhiệt độ bề mặt trái đất hay còn gọi là hiện tượng nóng lên toàn cầu.

- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất.

- Sự dâng cao mực nước biển do băng tan dẫn tới ngập úng ở những vùng đất thấp.

- Sự di chuyển của các đới khí hậu đang tồn tại đến các vùng khác nhau trên thế giới dẫn đến nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người.

- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác.

- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thủy quyển, sinh quyển và địa quyển.

Như vậy có thể thấy BĐKH đang và sẽ ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực cảu đời sống con người và sinh vật trên trái đất trong tương lai.

1.2 Ngành trồng trọt sẽ chịu tác động như thế nào?

- Diện tích gieo trồng bị thu hẹp, đất đồng bằng bị nhiễm mặn:

Nước biển dâng cao sẽ khiến cho nhiều vùng đất ven biển, khu vực đồng bằng bị nhiễm mặn, diện tích gieo trồng sẽ bị thu hẹp gây ra hiện tượng thiếu đất canh tác, đảm bảo an ninh lương thực sẽ trở thành gánh nặng cho mọi quốc gia. Ở nước ta, theo dự báo IPCC (2007), nếu nước biển dâng lên 1m sẽ có khả năng ảnh hưởng tới 12% diện tích và 10% dân số Việt Nam, làm ngập 5.000 km2 ở Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và 15.000 - 20.000 km2 ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tương đương với 300.000 - 500.000 ha tại ĐBSH và 1,5 - 2 triệu ha tại ĐBSCL và hàng trăm ngàn ha ven biển miền Trung, ước tính Việt Nam sẽ mất đi rất nhiều diện tích đất nông nghiệp và ảnh hưởng đến an ninh lương thực (ANLT) quốc gia.

Theo “Kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam” do Bộ Tài nguyên Môi trường công bố tháng 6 - 2009: nếu tính toán theo kịch bản phác thải thấp, trung bình và cao cho thấy mực nước biển có thể dâng thêm 28 - 33cm vào giữa thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 (Bảng1).

Bảng 1. Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980 - 1999

Kịch bản

Các mốc thời gian của thế kỷ 21

2020

2030

2040

2050

2060

2070

2080

2090

2100

Thấp (B1)

11

17

23

28

35

42

50

57

65

Trung bình (B2)

12

17

23

30

37

46

54

64

75

Cao (A1F1)

12

17

24

33

44

57

71

86

100

Cũng theo kịch bản này, trong trường hợp nước biển dâng 75 cm và 100 cm, Tp HCM sẽ bị ngập 10% và 23% diện tích; ĐBSCL sẽ ngập tương ứng là 19% và 37,8% diện tích.

- Làm giảm năng suất cây trồng dẫn đến nguy cơ mất an ninh lương thực:

Báo cáo đánh giá của IPCC về tác động của BĐKH lên cây lương thực cho thấy ở vùng nhiệt đới, nhiệt độ trung bình tăng lên sẽ ảnh hưởng xấu tới năng suất do ảnh hưởng trực tiếp đến thời kỳ nở hoa, thụ phấn (1 0C đối với lúa mỳ và ngô, 2 0C đối với lúa nước), nếu tăng lên 3 0C sẽ gây ra tình trạng cực kỳ căng thẳng cho tất cả các loại cây trồng ở tất cả các vùng. Nhiệt độ tăng 1 0C sẽ làm giảm năng suất ngô từ 5 - 20% và có thể giảm đến 60% nếu nhiệt độ tăng thêm 4 0C. Tương tự, năng suất lúa có thể giảm 10% đối với mỗi độ tăng lên. Các cây trồng khác cũng sẽ chịu tác động tương tự của BĐKH, nhất là các cây ăn quả á nhiệt đới như vải, nhãn. Năng suất các loại cây này có khả năng giảm đáng kể khi nhiệt độ mùa đông tăng cao. Nhiệt độ tăng cũng làm cho tính bất dục đực của các dòng mẹ lúa lai hệ 2 dòng hệ TGMS bị đảo lộn, việc sản xuất hạt giống lúa lai F1 sẽ gặp khó khăn hơn.

Theo kịch bản phát thải thấp, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam vào cuối thế kỷ 21 sẽ tăng lên từ 1,6 - 2,8 0C ở các vùng sinh thái so với thời kỳ 1980 - 1999 (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009).

- BĐKH gây đảo lộn cơ cấu cây trồng: nhiệt độ tăng làm thay đổi thời gian sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng, làm thay đổi quy luật phân hóa mầm hoa và nở hoa và do đó làm giảm khả năng luân canh, tăng vụ và đảo lộn cơ cấu các loại cây trồng, đặc biệt là những cây trồng ưa lạnh ở vụ đông và cây á nhiệt đới như đào, mận, mơ…

- Nhu cầu nước tăng cao dẫn đến thiếu hụt nước cho cây trồng:

Nhiệt độ tăng khiến cho nhu cầu tưới nước lớn và dẫn đến thiếu hụt nguồn nước sử dụng cho trồng trọt. Trong điều kiện nhiệt độ tăng lên 10 0C thì nhu cầu tưới nước cho cây trồng sẽ tăng 10% làm cho năng lực tưới của các công trình thủy lợi như hiện nay không đáp ứng đủ (IPCC, 2007).

- Thời tiết thay đổi thất thường dẫn đến hạn hán và làm tăng nguy cơ xuất hiện các loài dịch bệnh:

BĐKH cũng làm thay đổi quy luật thủy văn của các con sông, gây nên hiện tượng hạn hán. Ví dụ điển hình là các tỉnh ĐBSH đã phải gánh chịu hiện tượng thiếu nước trầm trọng ở vụ Đông Xuân trong 5 năm qua do mực nước sông Hồng xuống thấp dưới mức thấp nhất trong lịch sử 100 năm qua. Ví dụ thứ 2 là hiện tượng mùa đông ấm ở miền Bắc trong 3 - 4 năm trở lại đây, tiếp tục biểu hiện rõ trong năm 2009. Sự biến đổi về đất đai, nguồn nước, nhiệt độ sẽ kéo theo sự thay đổi về cơ cấu cây trồng và mùa vụ trong tương lai mà chúng ta cần nghiên cứu tác động để từ đó xây dựng chiến lược đối phó thích hợp.

BĐKH làm thay đổi điều kiện sinh sống của các loại sinh vật, làm mất đi hoặc thay đổi các mắt xích trong chuỗi thức ăn và lưới thức ăn dẫn đến tình trạng biến mất của một số loài sinh vật và ngược lại xuất hiện nguy cơ gia tăng các loại thiên dịch. Nhiệt độ tăng trong mùa đông sẽ tạo điều kiện cho nguồn sâu có khả năng phát triển nhanh hơn và gây hại mạnh hơn. BĐKH cũng có thể làm phát sinh một số chủng, nòi sâu mới, gây hại không những trong sản xuất mà còn trong bảo quản nông sản, thực phẩm.

Trong thời gian 2 năm trở lại đây, dịch rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá ở ĐBSCL diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng đến khả năng thâm canh, tăng vụ và làm giảm sản lượng nghiêm trọng ở một số vùng. Ở miền Bắc trong vụ Đông Xuân 2007 - 2008, sâu quấn lá nhỏ cũng đã phát sinh thành dịch, thời điểm cao diện tích lúa bị hại đã lên đến 400.000 ha, gây thiệt hại đáng kể đến năng suất lúa và làm tăng chi phí sản xuất. Vụ mùa năm 2009, Miền Bắc cũng đã bắt đầu xuất hiện một số bệnh lạ trên lúa, tương tự như bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá ở ĐBSCL, riêng Nghệ An diện tích lúa bị hại đã lên đến gần 6000 ha (Cục Trồng trọt, 2009).

- Hiện tượng thời tiết diễn biến cực đoan có xu hướng ngày càng gia tăng, gây bất lợi rất lớn đến sản xuất nông nghiệp:

Theo các báo cáo của Ban chỉ đạo phòng, chống lụt bão TƯ, trong 3 năm (2005 - 2007), số cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp ngày càng gia tăng. Vụ mùa năm 2005, bão đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến 150.000 ha lúa; năm 2006, đã có khoảng 200.000 ha lúa phải gieo cấy lại. Các năm 2004 - 2005, tình trạng khô hạn gay gắt ở miền Trung - Tây Nguyên gây thiệt hại nặng cho sản xuất trồng trọt; thiếu nước sinh hoạt cho người và gia súc. Năm 2007, 5 trận lũ lụt liên tiếp xảy ra ở miền Trung đã làm thiệt hại đáng kể đến sản xuất nông nghiệp.

Theo số liệu công bố tại Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH (Bộ Tài nguyên Môi trường, năm 2008), số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến nước ta đã giảm đi rõ rệt trông 2 thập kỷ qua nhưng những biểu hiện dị thường lại xuất hiện. Biểu hiện rõ nhất là đợt rét lịch sử kéo dài 38 ngày đã xảy ra ở vụ Đông Xuân 2007 - 2008 đã làm chết 200.000 ha lúa mới cấy, gần 20.000 ha mạ bị chết phải gieo lại, làm chết 137.000 con trâu, bò và ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng, phát triển của hàng nghìn ha cây trồng và hàng triệu vật nuôi.. Có thể nói thiệt hại về vật chất do đợt rét là rất lớn. Các xu hướng thời tiết như các cơn bão ảnh hưởng đến nước ta không theo quy luật hoặc tác động của gió màu đông bắc vượt qua đèo Hải Vân đến các tỉnh phía Nam… đã và đang ngày càng rõ nét.

2. Đề xuất một số giải pháp

Để chủ động né tránh, thích ứng và khắc phục có hiệu quả tác động của BĐKH, cần phải có các giải pháp đối với lĩnh vực nông nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng. Từ những kết quả nghiên cứu, đánh giá có được, tôi đề xuất những giải pháp chủ yếu sau đây:

2.1 Nâng cao nhận thức

- Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng và các hội thảo về BĐKH về các nguy cơ của BĐKH trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng để nâng cao ý thức và tạo tâm lý chủ động phòng tránh và thích ứng với BĐKH.

- Xây dựng chương trình đào tạo, tập huấn cho các cán bộ quản lý, nhà khoa học và người sản xuất về tác động của BĐKH, những định hướng và chủ trương của Bộ Nông nghiệp và PTNT đối với lĩnh vực sản xuất trồng trọt để thích ứng với BĐKH.

2.2 Nâng cao năng lực của cơ quan quản lý và cơ quan nghiên cứu

- Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ và hiểu biết sâu rộng về BĐKH và tác động tới ngành nông nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng ở các cơ quan đầu ngành, các cơ quan quản lý, các viện nghiên cứu, trường đại học, các tổ chức khuyến nông;

- Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, đánh giá tác động bất lợi của các biểu hiện của BĐKH đến sản xuất trồng trọt làm cơ sở cho những sáng kiến, quyết định và giải pháp kịp thời trong sản xuất.

- Ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến trong thu thập và xử lý số liệu; Thiết lập cơ sở dữ liệu, mạng lưới thông tin và trao đổi thông tin giữa các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và các đơn vị thực hiện để cảnh báo sớm và chính xác các nguy cơ đối với cây trồng qua đó tìm giải pháp hữu hiệu cho ngành trồng trọt tiếp tục phát triển. Đặc biệt cần theo dõi, đánh giá và dự báo ảnh hưởng của nước biển dâng đến diện tích đất trồng cây các loại làm cơ sở bố trí và chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích hợp.

2.3 Nghiên cứu, đánh giá tác động của BĐKH đến ngành trồng trọt để làm cơ sở xây dựng các biện pháp chủ động ứng phó

- Nghiên cứu đánh giá tác động của hiện tượng nước biển dâng đến sự biến đổi các đặc tính lý, hóa của đất nông nghiệp, đặc biệt là đất lúa của những vùng bị ảnh hưởng làm cơ sở cho việc bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý, giảm thiểu tác động tiêu cực của việc xâm nhập mặn.

- Đánh giá, phân tích tác động của các yếu tố thời tiết cực đoan đến sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng để làm cơ sở chủ động né tránh và thích ứng. Xây dựng các bản đồ: hạn hán, xâm nhập mặn, phân bố lượng mưa… làm cơ sở để bố trí, chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý, thích ứng với BĐKH.

- Xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu tác động của BĐKH đến ngành trồng trọt để phục vụ mục tiêu lâu dài của công tác giảm thiểu và thích ứng cây trồng với BĐKH.

2.4 Rà soát điều chỉnh quy hoạch đất đai và bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý

- Trên cơ sở dự tính dự báo về ảnh hưởng của BĐKH, cần tiến hành và rà soát các nguồn tài nguyên đất hiện có, qua đó điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch các vùng sản xuất cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả cho phù hợp với tác động của BĐKH trên tất cả các vùng, miền với tiêu chí đảm bảo vững chắc ANTL cho con người, sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên đất, nước.

- Trên cơ sở rà soát, điều chỉnh đất đai cần có phương án chủ động bố trí cơ cấu cây trồng, mùa vụ hợp lý để né tránh tác động của BĐKH:

+ Đối với vùng cao hạn chuyển sang trông các loại cây trồng cạn, giống chịu hạn để giảm áo lực về nước tưới.

+ Đối với vùng ngập: sử dụng các loại/ giống cây trồng chịu úng, phèn, mặn…

2.5 Nghiên cứu, phát triển giống mới

- BĐKH sẽ gây ra các biến đổi bất lợi cho sản xuất nông nghiệp như hiện tượng dâng cao của nước biển (nước mặn xâm nhập) vào diện tích gieo trồng hiện có; thiếu hụt nguồn nước tưới bởi hạn hán; xói mòn, thoái hóa đất… do vậy cần chú trọng hơn vào công tác nghiên cứu và phát triển các giống cây trồng mới có năng suất cao, thích nghi với điều kiện canh tác mới.

Việc chọn tạo giống cây trồng mới trong điều kiện BĐKH theo các hướng sau:

+ Giống ưu thế lai có sức sinh trưởng khỏe, chống chịu ngoại cảnh tốt.

+ Chịu hạn, có khả năng sử dụng tiết kiệm nước.

+ Chịu mặn.

+ Chống chịu sâu bệnh tốt.

+ Chịu nóng hoặc chịu lạnh.

+ Có thời gian sinh trưởng ngắn để có thể tăng vụ, chuyển vụ, né tránh thiên tai.

+ Khả năng thích ứng rộng, năng suất ổn định.

- Tăng cường nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học, trao đổi quốc tế tài nguyên di truyền thực vật, duy trì và chọn lọc các nguồn gen cây trồng bản địa để tạo ra những giống cây trồng có những tính trạng mong muốn, chống chịu được các stress sinh học, phù hợp điều kiện và cơ cấu gieo trồng của các khu vực chịu tác động của BĐKH, nhất là vùng ĐBSCL.

- Hình thành, phát triển và thực hiện chương trình quốc gia về chọn tạo, khảo nghiệm giống cây trồng mới, thích ứng với BĐKH.

2.6 Nghiên cứu, phát triển kỹ thuật trồng trọt thích ứng với BĐKH

- Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ và phương thức canh tác mới thích ứng với BĐKH (hạn hán, rét đậm, ấm, úng ngập và nhiễm mặn).

- Nghiên cứu các biện pháp canh tác, chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sử dụng ít nước hơn, chịu hạn hơn, xen canh/ luân canh với cây trồng có khả năng che phủ đất và cải tạo đất. Cần nghiên cứu, thử nghiệm giống ngắn/ dài ngày để né tránh thiên tai, đặc biệt là hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn ở những vùng có nguy cơ chịu tác động mạnh.

- Nghiên cứu sản xuất các loại phân bón, các chế phẩm bằng tăng cường khả năng chống chịu của cây trồng đối với ngoại cảnh bất thuận.

2.7 Chuyển giao và ứng dụng giống và công nghệ sản xuất mới

Đẩy mạnh công tác khuyến nông, chuyển giao tiến bộ KHKT về giống mới, kỹ thuật sản xuất mới cho nông dân, nhất là những nơi có khả năng chịu ảnh hưởng trực tiếp của BĐKH.

2.8 Xây dựng cơ chế chính sách

- Rà soát, bổ sung và xây dựng mới các văn bản pháp luật, xây dựng các chính sách về nông nghiệp, nông thôn và nông dân theo hướng hỗ trợ để chủ động ứng phó và khắc phục hậu quả của BĐKH. Đặc biệt là chính sách quản lý, sử dụng tài nguyên đất, nước, chính sách ANLT, chính sách chuyển đổi cơ cấu sản xuất thích ứng với BĐKH, chính sách bảo hiểm nông nghiệp…

- Xây dựng các cơ chế chính sách nghiên cứu, bảo vệ và sử dụng các nguồn gen địa phương, bản địa quý hiếm phục vụ công tác chọn giống cây trồng thích ứng với BĐKH.

2.9 Hợp tác quốc tế

- Mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực BĐKH, thiết lập các kênh trao đổi thông tin, hợp tác song phương, đa phương; nhập nội công nghệ, nguồn vật liệu chọn giống cây trồng thích ứng với BĐKH.

- Đề xuất Danh mục các dự án ưu tiên kêu gọi tài trợ của các tổ chức, nhà tài trợ quốc tế.

3. Kết luận

- BĐKH đã và đang tác động nhiều mặt đến ngành nông nghiệp, những tác động tiêu cực của BĐKH đến lĩnh vực trồng trọt chủ yếu là (i) Nước biển dâng làm cho diện tích đất sản xuất bị thu hẹp, đặc biệt là khu vực ĐBSCL, ĐBSH và ven biển miền Trung nước ta, hệ lụy là nguy cơ mất ANLT; (ii) nhiệt độ tăng làm thay đổi quy luật sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng dẫn đến đảo lộn cơ cấu cây trồng như truyền thống; nhiệt độ tăng cũng làm cho cây trồng giảm năng suất, sản lượng nông nghiệp giảm sút; (iii) BĐKH làm tăng hiện tượng thời tiết cực đoan, dị thường ảnh hưởng xấu đến sản xuất trồng trọt và (iv) BĐKH tạo điều kiện phát sinh sâu bệnh mới gây hại cây trồng.

- Trong thời gian qua đã có một số chương trình, dự án phát triển sản xuất có tính đến điều kiện bất thuận và BĐKH nhưng chưa dài hơi và tập trung cho việc ứng phó với BĐKH.

- Một số giải pháp, chương trình, dự án được đề xuất để ứng phó và giảm thiểu tác động tiêu cực của BĐKH trong lĩnh vực trồng trọt cần tập trung vào (i) nghiên cứu, phát triển giống mới, kỹ thuật trồng trọt, BVTV trong điều kiện BĐKH; (ii) đánh giá ảnh hưởng của BĐKH, nước biển dâng đến đất nông nghiệp làm cơ sở cho quy hoạch, chuyển đổi cơ cấu cây trồng; (iii) phát triển hệ thống canh tác lúa bền vững ở những vùng nguy cơ cao và (iv) xây dựng cơ sở dữ liệu để dự báo sớm những tác động tiêu cực của BĐKH đến trồng trọt.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.