Ngành than - những chặng đường phát triển
Tới thời đại Minh Mệnh (1820-1840) mới bắt đầu xuất hiện rải rác một vài mỏ than ở cùng Mạo Khê - Đông Triều do các thương nhân Trung Quốc và quan lại thổ tù người Việt đứng ra trưng khai với triều đình. Mãi tới tháng 12 năm 1839, Tổng đốc Hải An (nay là Quảng Ninh) là Tôn Thất Bật mới dâng sớ lên Nhà Vua Minh Mệnh xin thuê người lập mỏ, khai thác than ở núi Yên Lãng (nay là Yên Thọ). Đó là lần đâu tiên than đá được khai thác dưới sự quản lý nhà nước của chế độ phong kiến. Năm 1851, năm thứ tư triều Tự Đức, Nhà Vua đã cho dịch một tài liệu về phương pháp khai thác mỏ của Phương Tây lấy tên là "Khai mộc yếu pháp" để phổ biến. Đây có thể coi là tài liệu giáo khoa đầu tiên về khai thác mỏ ở nước ta.
Năm 1872, Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ. Năm 1874, Pháp buộc triều đình nhà Nguyễn ký Thỏa ước có điều khoản phải mở cửa cảng Hồng Gai và lập Thương chính hỗn hợp Pháp-Việt tại đó để các tàu thuyền Anh, Pháp, Trung Quốc, Đức… thường xuyên nhập cảng mua bán trao đổi hàng hóa với dân bản xứ để lấy lâm thổ sản quý hiếm, than… Từ đó ngoài các thương nhân người Hoa còn có thêm người ngoại quốc khác xin Triều đình trưng khai các mỏ than như Bôđiê (Pháp), trưng khai mỏ Đàm Khê (Đông Triều), Lyry (Đức) trưng khai một số mỏ vùng Mạo Khê…
Từ năm 1881, Triều đình nhà Nguyễn phê chuẩn cho các nhà địa chất Pháp được phép tiến hành cuộc tìm kiếm mỏ trên khắp lãnh thổ Bắc Kỳ. Ngày 12 tháng 3 năm 1883, Thực dân Pháp đánh chiếm khu mỏ Hồng Gai - Cẩm Phả. Một năm sau, Triều đình Huế chính thức viết văn tự bán khu mỏ Hồng Gai cho Pháp với nội dung như sau:
"Ngày 26 tháng 8 năm 1884 tại Kinh đô Huế, ngài Phạm Thận Duật, Thương thư Ngân khố Hoàng gia, được ủy quyền của vua An Nam, với sự chứng kiến của các nhân vật quan trọng của Triều đình và ông Bavier Chauffor, ngụ ở số nhà 70 phố Charles Laffite-Paris, đã cùng thỏa thuận rằng: Hiện nay, Triều đình An Nam đang là chủ nhân của khu mỏ Hồng Gai - thuộc tỉnh Quảng yên trong vịnh Hạ Long. Khu mỏ này dài khoảng 10km, rộng khoảng 8km thuộc khu vực kinh tuyến 107 o 37-107 o 43 và vĩ tuyến 20 o 57-21 o 02, đồng ý bán cho ngài Bavier Chauffor với tất cả cây cối, sông ngòi, bãi biển, các mỏ và tất cả những gì có mặt trên mặt và trong lòng đất. Ông Bavier Chauffor phải trả cho Triều đình An Nam 40 ngàn quan Mễ Tây Cơ…"
Văn tự được Rheinard, công sứ Pháp tại Huế xác nhận, ký tên và đóng dấu ngày 27/8/1884.
Tới ngày 24/4/1888, Pháp thành lập Công ty Than Bắc Kỳ SFCT (Société francaise des charbonnages du Tonkin) quản lý toàn bộ khu mỏ Quảng Ninh từ Bãi cháy tới Mông Dương, với tổng diện tích 21.932 hecta, bao gồm hàng chục mỏ lộ thiên, hầm lò lớn nhỏ. Năm 1936, tổng số công nhân ở khu vực này đã lên tới hơn 30 ngàn người và năm 1939 đạt sản lượng cao nhất - 2,61 triệu tấn/năm.
Trong 72 năm, tính từ 1884 đến 1955, Thực dân Pháp đã khai thác hơn 50 triệu tấn than sạch từ vùng mỏ Quảng Ninh.
Ngày 25/04/1955, vùng mỏ Quảng Ninh chính thức được giải phóng. Những người thợ mỏ thực sự được làm chủ vùng đất mỏ của mình. Thừa kế mà những người chủ mới giành lại được từ tay Thực dân Pháp là những công trường khai thác hầm lò và lộ thiên nhỏ lẻ với trang thiết bị nghèo nàn và công nghệ lạc hậu.
Trừ chiếc Marion 4,6 m 3(chủ mỏ định tháo dỡ mang đi nhưng công nhân đấu tranh giữ lại được), thiết bị của khu mỏ lúc này chỉ lèo tèo vài chiếc máy xúc Lima chạy dầu 0,65 m 3, ô tô chở than Berlier - 4 tấn, máy khoan đập cáp nặng nề, xe goòng 0,8 m 3đẩy tay trên đường ray 700mm… còn lại là xà beng, cuốc xẻng, búa tạ cầm tay.
Vốn liếng là như vậy, nhưng trong những ngày còn lại của năm đầu phục hồi sản xuất (1955), những người chủ mới của vùng mỏ đã sản xuất được 0,42 triệu tấn than để cung cấp kịp thời cho những nhu cầu cấp thiết của đất nước vừa giải phóng. Những năm tiếp theo, cùng với tinh thần tự lực tự cường của những người thợ mỏ giàu lòng yêu nước, sự giúp đỡ tận tình của bạn bè trong phe xã hội chủ nghĩa, vùng mỏ dần thay da đổi thịt, nhiều công nghệ, thiết bị hiện đại (của thời bấy giờ) đã được chuyển giao tới tay người thợ mỏ và nhanh chóng phát huy hiệu quả để năm 1960 nâng sản lượng lên 2,57 triệu tấn/năm. Cũng từ năm này, cơ chế quản lý tổ chức bắt đầu được cải tiến, một loạt các xí nghiệp khai thác hầm lò, lộ thiên được thành lập, trực thuộc 3 công ty lớn là Uông Bí, Hồng Gai, Cẩm Phả. Nhờ thế mà năm 1965 sản lượng toàn ngành đã đạt 4,29 triệu tấn/năm. Mười năm tiếp sau đó, do chiến tranh, hậu quả của chiến tranh cũng như sự lạc hậu, lỗi thời của cơ chế kinh tế bao cấp trong thời bình, sản lượng ngành than chỉ dừng lại ở mức 4,1-5,3 triệu tấn/năm. Trong 40 năm tính từ 1955 đến 1994, ngành than đã cung cấp cho nền kinh tế quốc dân 162,5 triệu tấn than. Sự tăng trưởng này mặc dù khá khiêm tốn, nhưng so với thời kỳ Pháp xâm chiếm, sản lượng trung bình hàng năm cũng gấp tới 5,8 lần.
Ở góc độ lịch sử, có thể chia sự phát triển của ngành than từ thời điểm từ năm 1994 trở về trước thành 3 thời kỳ.
* Thời kỳ 1839-1884: Ra đời và hoạt động sơ khai dưới sự quản lý của các triều đại phong kiến Nhà Nguyễn
* Thời kỳ1884-1955: Hình thành một ngành công nghiệp và hoạt động có kỹ thuật dưới sự quản lý của Thực dân Pháp.
* Thời kỳ 1955-1994: Trở về tay nhân dân, người thợ đã làm chủ đất mỏ, bước đầu được cơ giới hóa và hoạt động với hiệu quả tăng dần dưới sự quản lý theo cơ chế kinh tế bao cấp thời chiến tranh và hậu chiến tranh.
Sự ra đời của Tổng Công ty Than Viêt Nam (TVN) năm 1995 có thể coi là một mốc son trong lịch sử phát triển của ngành than Việt Nam, đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ tiếp theo - thời kỳ đổi mới phương thức quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành than. Từ cơ chế kinh tế bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường, ngành than đã phát huy được sức mạnh nội lực, nâng cao ý thức tự chủ trong sản xuất kinh doanh đa ngành trên nền sản xuất than, liên tục phát triển, tạo lập điều kiện để dẫn đến sự hình thành Tập đoàn kinh tế - Công ty con, như quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Trong 11 năm hoạt động vừa qua của thời kỳ đổi mới (1995-2005) với những biến đổi về chất trong công nghệ và thiết bị sử dụng trên các mỏ lộ thiên và hầm lò, ngành than đã cũng cấp cho nền kinh tế quốc dân 183,48 triệu tấn than, lớn hơn cả sản lượng trước đó, gấp 4,11 lần tính theo sản lượng trung bình hàng năm, trong khi điều kiện khai thác càng ngày càng khó khăn, mỏ ngày càng xuống sâu vỉa mỏng dần, khối lượng đất bóc ngày càng tăng, nguy cơ rủi ro địa chất ngày càng lớn… Chính sự tăng trưởng vượt bậc của ngành than trong thời gian qua là tiền đề hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn TKV ngày nay. Bên cạnh các mỏ than còn có các nhà máy điện (Cao Ngạn, Na Dương, Cẩm Phả…), nhà máy xi măng (La Hiên…), xưởng lắp ráp ô tô tải, xưởng đóng tàu thủy, xưởng sản xuất vật liệu nổ công nghiệp… các dịch vụ thương mại khác, cũng như đủ điều kiện cho việc đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh vào các khoáng sản Bauxít, đồng, chì, kẽm, như hiện nay.
Ra đời và phát triển, 167 năm qua, Ngành than đã trải qua 4 thời kỳ biến động trong phương thức quản lý - phong kiến lạc hậu, thực dân bóc lột, dân chủ bao cấp, tự chủ thị trường - để có một tập đoàn kinh tế lớn mạnh như ngày nay. Để đạt được mục tiêu chiến lược trong thời gian tới là: Phát triển nhanh, mạnh nhằm thỏa mãn nhu cầu trong nước và xuất khẩu, hợp lý, hiệu quả; duy trì tỷ trọng cân đối của than trong cân bằng năng lượng; phát triển các vùng than mới ở đồng bằng Bắc Bộ và các mỏ than bùn… ngành than cần tiếp tục đầu tư theo chiều sâu, nghiên cứu ứng dụng các công nghệ hiện đại, tiên tiến nhằm nâng cao mức độ an toàn lao động, an toàn môi trường, tăng năng suất lao động, thu hồi tối đa và tiết kiệm tài nguyên, sử dụng tổng hợp và nhiều nhất có thể phế thải khai thác vào các mục đích kinh tế khác.








