Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 22/08/2011 20:45 (GMT+7)

Nét mới trong hoạt động quản lý KH&CN của các huyện, thành, thị Nghệ An năm 2011

1. Các mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất và đời sống

Những năm gần đây, trên địa bàn các huyện xuất hiện nhiều mô hình mới, bước đầu đã có những thành công nhất định, tuy nhiên do sản xuất manh mún lại không áp dụng hợp lý các tiến bộ KH&CN nên chưa thực sự phát huy được thế mạnh của mỗi vùng miền. Nhận thấy điều đó, một số huyện đã đề xuất và xây dựng các mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN nhằm nâng cao năng suất và chất lượng trong sản xuất, đồng thời tạo tính bền vững để phát triển lâu dài.

Có thể kể đến như mô hình nuôi nhím thương phẩm của huyện Đô Lương, Anh Sơn. Nắm bắt được ưu thế nhím là động vật quý hiếm đã mang lại siêu lợi nhuận cho người chăn nuôi, kỹ thuật nuôi tương đối đơn giản, thức ăn có sẵn và ít bệnh tật, các huyện Đô Lương và Anh Sơn đã triển khai xây dựng mô hình “Nuôi nhím thương phẩm với quy mô 4 cặp”.

Một số huyện như Hưng Nguyên, Tân Kỳ lại chọn “Xây dựng mô hình nuôi gà đồi và gà đen với quy mô 500 con”để tận dụng lợi thế vườn đồi và đáp ứng thị hiếu “ưa chuộng gà đồi, gà sạch” của người tiêu dùng để tăng lợi nhuận trong chăn nuôi.

Huyện Nam Đàn có sự táo bạo khi chọn “Xây dựng mô hình nuôi baba gai (Trionyx steinacheri) trong bể xi măng”để phát triển kinh tế tại các hộ gia đình. Đây là mô hình cần đầu tư lớn (chủ yếu là đối ứng của các trang trại) bởi con giống lên tới 500.000 đồng/con. Tuy nhiên, đây cũng là điều kiện để các trang trại bứt phá trong nâng cao thu nhập và chuyển đổi cơ cấu vật nuôi.

Các huyện có đặc thù riêng về khí hậu và tập quán sản xuất lại lựa chọn các mô hình mang tính chất đặc trưng để tạo ra các đặc sản như: Tương Dương “Xây dựng mô hình nuôi lợn rừng lai, quy mô 10 con”; Quế Phong “Mở rộng mô hình sản xuất hoa ly”.

Một số huyện khác như Con Cuông và Quỳ Hợp đã ứng dụng những thành tựu nổi bật của tiến bộ KH&CN tỉnh nhà thông qua “Xây dựng mô hình sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ phế phụ phẩm nông nghiệp bằng chế phẩm UD1”(của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Nghệ An) cho các hộ gia đình nhằm tận dụng tốt các phế, phụ phẩm, biến thành loại phân có chất lượng để nâng cao năng suất cho cây trồng.

Các huyện ven biển có những vùng đất nước lợ đã biết biến cái bất lợi thế khi chọn “Xây dựng mô hình nuôi cá vược thương phẩm”. Cá vược có thể nuôi ở cả môi trường nước ngọt, nước mặn và nước lợ nên góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi, tăng tính bền vững của nghề nuôi trồng thủy sản. Hơn nữa, trong điều kiện xâm thực mặn đang có xu hướng phát triển mạnh như hiện nay thì mô hình này có thể xem là bước “đi tắt đón đầu” nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu.

Nhằm phát huy lợi thế đất đai và nguồn nhân lực tại địa phương, qua đó phát triển đa dạng cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, Nghĩa Đàn đã triển khai “Xây dựng mô hình trồng chuối tiêu (Cavendish sp) sạch bệnh bằng phương pháp nuôi cấy mô in vitro quy mô 1ha”. Chuối tiêu là cây dễ trồng và không tốn công chăm sóc, thị trường tiêu thụ dễ dàng nên mô hình này có thể là một bước chuyển mình trong thay đổi cơ cấu cây trồng trên vùng đất Nghĩa Đàn.

Trong điều kiện “đất chật người đông”, thị xã Thái Hòa lựa chọn “Xây dựng mô hình trồng măng Tây xanh với diện tích 0,4ha”. Bởi đây là đối tượng trồng mật độ cao, diện tích không cần lớn nhưng lại cho thu nhập cao và đầu ra ổn định.

Cũng đã có nhiều đề tài được triển khai đạt hiệu quả bước đầu nhất định, tuy nhiên do nhiều điều kiện khác nhau mà chưa được nhân rộng và chưa phát huy hết hiệu quả. Trong số đó, đề tài “Hỗ trợ xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý tại bệnh viện đa khoa Nghi Lộc”đã nghiệm thu đạt kết quả xuất sắc, phần mềm QLBV.MA08 được đánh giá là phần mềm thông minh, thân thiện và hữu ích trong quản lý các cơ sở y tế. Nhận thấy điều đó, huyện Nghi Lộc đã lựa chọn “Tập huấn, chuyển giao phần mềm quản lý bệnh viện: QLBV.MA08 cho 10 trạm y tế xã”nhằm đưa công nghệ thông tin ứng dụng trong quản lý và điều hành nhằm nâng cao hiệu quả khám và điều trị bệnh cho các trạm y tế. Ứng dụng công nghệ vào chế biến nông sản mang lại thu nhập cao và tạo đầu ra ổn định cho nông sản cũng là hướng đi cần thiết trong nền kinh tế thị trường nên huyện Thanh Chương đã “Xây dựng mô hình chiết xuất và chế biến tinh dầu sả”.

Những mô hình trên đây dù chỉ thực hiện trên quy mô nhỏ nhưng có ý nghĩa to lớn, bởi đây chính là nơi thử nghiệm các tiến bộ mới trong KH&CN để tiến tới xây dựng quy mô lớn (thông qua các đề tài, dự án KH&CN hoặc huyện chủ động nhân rộng ra diện rộng). Mặt khác, khi thực hiện các mô hình này, nguồn ngân sách KH&CN chỉ hỗ trợ 40-50% giống (hoặc nguyên vật liệu, năng lượng) nên phần lớn nguồn kinh phí để hoàn thiện là do người dân đối ứng. Đó cũng chính là cơ sở để từng bước xã hội hóa hoạt động KH&CN. Quan trọng hơn, thông qua các mô hình này, người dân được tập huấn các quy trình kỹ thuật, có điều kiện tiếp cận với các tiến bộ KH&CN để tự làm chủ các công nghệ mới, áp dụng vào sản xuất và đời sống một cách hiệu quả nhất.

2. Xây dựng nhãn hiệu tập thể cho các đặc sản trên địa bàn huyện

Nhãn hiệu tập thể thường được định nghĩa là các dấu hiệu phân biệt nguồn gốc địa lý, nguyên vật liệu, mô hình sản xuất hoặc các đặc tính chung khác của hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp (hộ sản xuất) khác nhau cùng sử dụng nhãn hiệu tập thể. Chủ sở hữu có thể là hiệp hội mà các doanh nghiệp (hộ sản xuất) là thành viên hoặc chủ thể khác là một tổ chức công hoặc một hợp tác xã. Do đó, xây dựng nhãn hiệu tập thể là công cụ hữu hiệu cho các doanh nghiệp (hộ sản xuất) trong việc hỗ trợ họ vượt qua những thách thức vì quy mô nhỏ và sự phân lập trên thị trường, tạo ra được sự nhận biết và sự trung thành của người tiêu dùng.

Nhận thấy lợi ích to lớn đó, các huyện Quỳ Châu, Đô Lương và Cửa Lò đã tổ chức triển khai xây dựng nhãn hiệu tập thể. Cụ thể: Quỳ Châu “Xây dựng và phát triển nhãn hiệu cho sản phẩm hương trầm Quỳ Châu”; Đô Lương “Xây dựng nhãn hiệu tập thể cho làng nghề bánh đa, kẹo lạc Vĩnh Đức”; Cửa Lò “Xây dựng nhãn hiệu tập thể cho làng nghề chế biến nước mắm khối Hải Giang I”.

Việc xây dựng nhãn hiệu tập thể cũng nhằm khuếch trương các sản phẩm mang đặc trưng của một vùng nhất định, cung cấp cơ sở cho việc hợp tác giữa những nhà sản xuất trong vùng. Mặt khác, một nhãn hiệu tập thể có thể được sử dụng để thực hiện các đặc trưng đó và là cơ sở để marketing các sản phẩm, do đó đem lại lợi ích cho tất cả các nhà sản xuất. Hơn nữa, nó còn cho phép các doanh nghiệp (các hộ sản xuất) phân biệt hàng hóa của mình với hàng hóa của các đối thủ cạnh tranh, trong khi cùng thu được lợi ích từ sự tin tưởng của người tiêu dùng.

Vì vậy, việc xây dựng nhãn hiệu tập thể cho các đặc sản trên địa bàn khác huyện đã góp phần quản lý và phát triển “thương hiệu” để các đặc sản của xứ Nghệ ngày càng phát triển và bền vững.

3. Xây dựng kế hoạch hoạt động KH&CN dài hạn giai đoạn 2011-2015

Việc tổ chức nghiên cứu, xây dựng kế hoạch hoạt động KH&CN dài hạn trên địa bàn huyện để có kế hoạch phát triển cụ thể cho từng đối tượng và lĩnh vực là rất cần thiết. Bởi thông qua đó, các huyện có thể đánh giá, phân tích một cách tổng quan hiện trạng hoạt động KH&CN giai đoạn 2001-2010, từ đó đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp, đảm bảo cho phát triển KH&CN đúng hướng, phù hợp với từng giai đoạn, từng vùng miền cụ thể, trở thành động lực, nguồn lực phục vụ đắc lực, có hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu phát triển và tăng trưởng kinh tế của các huyện. Vì vậy, các huyện: Đô Lương, Yên Thành và thị xã Cửa Lò đã tổ chức triển khai “Xây dựng kế hoạch KH&CN dài hạn giai đoạn 2011-2015”.

Xây dựng các mô hình mới để ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất và đời sống, xây dựng nhãn hiệu tập thể cho các đặc sản trên địa bàn huyện hay triển khai xây dựng kế hoạch hoạt động KH&CN dài hạn giai đoạn 2011-2015 là những nét mới trong từng bước tạo thế chủ động cho cấp huyện năm 2011. Đây chính là hướng đi cần thiết và tất yếu để từng bước tạo thế chủ động cho cấp huyện mạnh dạn ứng dụng các tiến bộ KH&CN vào sản xuất và đời sống, thông qua xây dựng các mô hình cũng giúp cho người dân được tiếp cận với các tiến bộ mới, tạo cho họ bước vào một phương thức sản xuất khoa học và hiệu quả. Hơn thế nữa, những nét mới của hoạt động quản lý KH&CN trên địa bàn huyện năm nay còn tạo đà cho phát triển KH&CN trong những năm tiếp theo nhằm từng bước xã hội hóa KH&CN để tỉnh trở thành địa phương phát triển khá về KH&CN, góp phần tích cực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XVII đã đề ra./.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.