Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 09/03/2010 17:16 (GMT+7)

Nét đẹp trong lễ hội Phật giáo thời Lý - Trần

Và trong đời sống thường nhật của họ không thể thiếu những lễ hội bởi đạo Phật đã truyền bá ở đất nước này cả ngàn năm rồi. Vậy thì, lễ hội được tổ chức ở hai triều đại này là những lễ hội nào, nó được tổ chức ra sao, ý nghĩa của từng lễ hội đó là gì, thời gian, không gian, người tổ chức lễ, người tham dự lễ… được thể hiện như thế nào? Tất cả sẽ được chúng tôi lần lượt giới thiệu sau đây:

Người tổ chức và người tham dự lễ hội

Phật giáo với tư cách gần như là một quốc giáo của đất nước Đại Việt, đương nhiên lễ hội Phật giáo của thời kỳ này hầu như đượccả nước tổ chức và tham dự. Ngoài các Thiền sư, Hoà thượng thuộc giới xuất gia đứng ra tổ chức các lễ hội Phật giáo, các vị vua, quan, tướng văn, tướng võ, vương tôn, công chúa, dân thường… đề gópphần mình trong Phật sự lớn lao đó. Nhà vua hay hoàng thân quốc thích thì tổ chức những buổi lễ hội mang tính quốc gia, quy mô tổ chức lớn hơn, số người tham dự nhiều hơn, đặc biệt nhất là các sứthần của các nước láng giềng như Chiêm Thành… cũng được nhà vua đặc cách mời tham dự, còn các quan lại hoặc dân chúng ở thôn xóm làng mạc thì tổ chức lễ hội nhỏ hơn, gói gọn trong một làng hoặc liênlàng.

Theo tư liệu lịch sử hiện có, trong những năm tháng quản trị quốc gia xã tắc, vua Thái Tổ nhà Lý đã nhiều lần tổ chức lễ hội độ tăng với quy mô lớn, hàng loạt dân chúng được xuất gia học Phật, dự vào hàng tháng chúng của Phật; thời Thái Tông, Thánh Tông cũng có rất nhiều lễ hội được nhà vua chính thức hạ lệnh tổ chức. Tháng Giêng năm 1036, mở hội khánh thành tượng Phật Đại Nguyện ở Long Trì; tháng 10 – 1040, mở hội La Hán ở Long Trì; còn vua Nhân Tông lại là một ông vua đứng ra tổ chức và tham dự nhiều lễ hội Phật giáo nhất của triều đại nhà Lý: Mùa xuân năm 1077, chỉ sau 5 năm lên ngôi, vua hạ lệnh mở hội Nhân Vương ở điện Thiên An; tháng Giêng mùa xuân năm Đại Tường Hội Khánh thứ nhất và thứ bảy (1110, 1116) mở hội đèn Quảng Chiếu (1); lễ Vu Lan cầu siêu cho thái hậu Linh Nhân cũng được vua long trọng cử hành vào tháng 7 – 1118; tháng 9 – 1118 mở hội Thiên Phật khánh thành chùa Thắng Nghiêm; tháng 2 – 1120, tháng 9 – 1126 tổ chức hội đèn Quảng Chiếu ở sân rồng (2); trong văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh còn ghi lại sự kiện vua tổ chức lễ Phật đản lớn ở chùa Diên Hựu; lễ hội lớn nhất được tổ chức ở thời vua Thần Tông là lễ hội khánh thành tám vạn bốn ngàn bảo tháp vào tháng 2 – 1129.

Thời nhà Trần, sử sách ít ghi chép những Phật sự lớn của các vị vua đầu, có lẽ từ thời Thái Tông đến thời Nhân Tông, cả đất nước phải 3 lần đối mặt với 3 cuộc chiến tranh lớn chống quân Nguyên, nhưng sau khi Trần Nhân Tông xuất gia, vua Anh Tông và Minh Tông kế tiếp cai quản đất nước, các lễ hội Phật giáo được tổ chức tương đối nhiều, lễ hội lớn nhất được bộ Đại Việt sử ký toàn thưghi nhận là vào năm 1303: “Mùa xuân Tháng Giêng ngày 15, Thượng hoàng ở phủ Thiên Trường, mở hội Vô Lượng Pháp ở chùa Phổ Minh, bố trí vàng bạc tiền lụa để chẩn cấp cho dân nghèo trong nước và giảng kinh giới thí”. Còn trong Tam tổ thực lụcghi nhận nhiều lễ hội Phật giáo được tổ chức theo yêu cầu của vua và các hoàng thân quốc thích, như lễ hội truyền giới Bồ tát tại gia, lễ hội Quán đỉnh…

Các vua là thế, quan lại dân chúng cũng thường xuyên mở lễ hội Phật giáo khắp nơi, đặc biệt là lễ hội khánh thành sau khi xây dựng hoặc tu bổ chùa tháp, tạc tượng, đúc chuông mà tư liệu văn khắc Hán Nôm của hai thời kỳ này ghi nhận. Vùng biên giới phía Nam Đại Việt (Châu Ái, tức vùng Thanh Hoá bây giờ), tướng Lý Thường Kiệt xây dựng hai ngôi chùa nổi tiếng. Báo Ân núi An Hoạch, Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn, thế là có ít nhất hai lễ hội khánh thành chùa được tổ chức tại đây. Vùng biên giới phía Bắc Đại Việt (Chiêm Hoá – Tuyên Quang) tướng Hà Hưng Tông và con cháu của ông xây dựng tu bổ chùa Bảo Ninh Sùng Phúc, lễ khánh thành chùa cũng được diễn ra sau đó; Chu Tế - một quan Nội nhân hoả đầu thời nhà Trần đã dẫn dắt dân chúng cùng xây dựng lại ngôi chùa Khai Nghiêm do công chúa Nguyệt Sinh thời Lý khai lập, lễ hội khánh thành chùa được vị quan nhỏ đó và dân chúng đứng ra tổ chức, sự kiện này được Trương Hán Siêu ghi nhận khi viết bia cho chùa…

Việc vua chúa, quan lại, dân chúng, xuất gia, tại gia cùng nhau tổ chức những lễ hội Phật giáo ở thời kỳ này chứng tỏ rằng đất nước Đại Việt lúc bấy giờ rất giàu mạnh, mọi lĩnh vực kinh tế xã hội đều phát triển, dân chúng được ấm no hạnh phúc. Dân gian có câu: “Phú quý sinh lễ nghĩa”, ở góc độ nào đó, câu nói này vẫn có giá trị, đất nước phải cường thịnh, của cải phong túc, nội triều ngoại chính đều bình yên, vua quan mới có tâm để nghĩ đến việc hưởng thụ và thưởng thức văn hoá tinh thần, mới có thời gian để nhìn nhận những giá trị thiêng liêng to lớn mà văn hoá tinh thần mang lại cho đời sống của mỗi con người, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia; dân chúng có an cư lạc nghiệp, có đủ cơm ăn áo mặc, mới có tâm tư để nghĩ đến việc gieo phúc, tạo đức, mới có thời gian để hoà mình vào lễ hội, sống và hành trì theo những giá trị cao cả của pháp Phật.

Một điều chắc chắn được thể hiện ở đây là Phật giáo đã và đang rất phát triển trên đất nước này. Phật giáo trở thành tôn giáo củamọi người, được cả nước đón nhận, Phật giáo đi vào trong cuộc sống thường nhật của mỗi người bằng những hành động cụ thể, bằng những giáo pháp thiết thực. Chỉ một lễ hôi Vu Lan được tổ chức khắp nơivào mỗi rằm tháng 7 hàng năm cũng đủ chứng tỏ điều đó. Vu Lan là dịp để mọi người bày tỏ lòng hiếu thảo của mình đối với đấng sinh thành, không chỉ trong hiện tại mà còn cả bảy đời quá vãng; là dịpđể họ gieo hạt giống lành cho mình vào ruộng phước chư tăng khi thiết lễ trai tăng, dân cúng “tứ sự”; là dịp để họ gieo nhân tích đức, bày tỏ lòng vị tha của mình khi dành bớt một phần của cải vậtchất của mình cho những người nghèo thiếu hơn mình; cao cả hơn nữa, đó là dịp để họ nhận rõ lý duyên sinh nhiều đời nhiều kiếp, vòng luân hồi sinh tử bất diệt của cuộc đời khi nấu cháo cúng chẩn côhồn, bởi những linh hồn cô quạnh đó biết đâu đã từng là cha là mẹ, là anh em vợ chồng, là họ hàng thân thích từ bao đời của mình.

Sự hoà hợp đồng hành của Phật giáo với dân tộc là một minh chứng nữa được thể hiện rõ ở đây. Phương châm “Đạo pháp dân tộc” luôn được coi trọng và thực hành. Đạt Phật xưa nay không tách rời đời sống thế tục, đạo Phật luôn gắn liền với sự tồn vong hưng thịnh của mỗi dân tộc. Đạo Phật còn dành trọn tâm tư tình cảm vì dân tộc này, mang lại lợi lạc cho dân tộc này, dân tộc này mới mở rộng tấm lòng để đón nhận đạo Phật, mới nhận thấy được những giá trị thiết thực cụ thể của đạo Phật, và mới sẵn sàng đóng góp sức người sức của cho công cuộc hoằng dương chánh pháp, mới tự coi việc giữ gìn và truyền bá đạo Phật là trách nhiệm của mình.

Thời gian và không gian của lễ hội

Lễ hội Phật giáo thời Lý - Trần được tổ chức rất phong phú đa dạng, từ hình thức tổ chức đến nội dung lễ hội, đặc biệt là về thời gian và không gian tổ chức lễ hội. Nhiều nhà nghiên cứu Phật giáo Việt Namkhẳng định lễ hội Phật giáo thường được tổ chức theo thời gian nông nhàn của nhân dân Việt Nam , tức là thường được tổ chức vào mùa xuân hoặc mùa thu. Nhưng như những lễ hội chúng tôi dẫn ra từ sử sách trên có thể thấy, lễ hội Phật giáo tổ chức trong rất nhiều thời điểm và ở nhiều nơi khác nhau. Ngoài những lễ hội chính được tổ chức vào thời điểm cố định như lễ hôi Phật Đản vào ngày 8 – 4 và lễ hội Vu Lan vào rằm tháng 7, lễ hội đèn Quảng Chiếu thời vua Lý Nhân Tông lại được tổ chức vào tháng Giêng, tháng 2, tháng 9 ở cửa Đại Hưng và ở điện Long Trì; lễ hội Thiên Phật được tổ chức vào tháng 9 – 1118 ở chùa Thắng Nghiêm Thánh Thọ, lễ hội La Hán được tổ chức vào tháng 10 ở điện Long Trì, lễ hội Nhân Vương được tổ chức vào mùa xuân năm Anh Vũ Chiêu Thắng 2 ở điện Thiên An (1077) và mùa hạ năm Đại Định thứ 10 ở điện Long Trì (1149), lễ hội Điểm nhãn cho hơn ngàn pho tượng Phật được tiến hành vào tháng 2 năm Khai Thái thứ nhất ở chùa Phổ Quang, lễ hội Chuyển tạng đại trai (lập đàn chay tụng đại tạng kinh) suốt 10 ngày đêm được tổ chức vào tháng 3 năm Khai Thái thứ 5 ở chùa Quỳnh Lâm theo lời thỉnh cầu của Quốc mẫu Bảo Huệ…

Không gian diễn ra lễ hội ở thời kỳ này có thể nói là khắp mọi vùng miền của Tổ quốc, không chỉ ở trong cung điện, ở những ngôi chùa tại đất Kinh kỳ, mà còn ở khắp các làng quê thôn xóm, ngay cả những nơi biên viễn xa xôi, bởi vì ở nơi đâu có chùa là ở nơi đó có lễ hội Phật giáo được tổ chức.

Có thể nói, chính thời gian và không gian diễn ra lễ hội phong phú, rộng khắp như thế đã chứng minh rằng sự tu học và hoằng truyền Phật pháp ở đất Đại Việt phát triển hết sức mạnh mẽ, thời gian và không gian của người con Phật không còn là thời gian không gian của chiếc đồng hồ hay của chiếc máy đo kinh tuyến vĩ tuyến cứng nhắc, mà trong mọi lúc, ở mọi nơi, suốt các mùa xuân hạ thu đông, từ thành thị đến thôn dã, người con Phật đều có thể sống trong pháp nhũ của Phật Đà, đều có cơ hội học Phật và ngộ đạo. Đúng với tinh thần của Thiền học Việt Nam: “Đất này Tây thiên, Tây thiên đất này”; thời kỳ chánh pháp, thời kỳ tượng pháp hay thời kỳ mạt pháp đều hoà vào trong khoảnh khắc và không gian lễ hội đó; đất nước này chính là thành Vương Xá, là tinh xá Kỳ Viên, thời kỳ Lý Trần là thời Phật còn tại thế, người dân dù mang những tên gọi khác nhau như Kinh, Mường, Êđê, Chămpa nhưng cũng chính là người của dòng Sakya, đều có sẵn Phật tính, đều được nghe pháp, và khắp nơi trên dải đất này đâu đâu cũng vang vạng tiếng pháp. Thiền Việt Nam là vậy, không dành riêng cho người xuất gia, không dành riêng cho tầng lớp thượng lưu trí thức, người tại gia với trăm công ngàn việc, người nông dân chân lấm tay bùn vẫn ung dung trong tinh thần “Đói đến thì ăn mệt ngủ liền…”.

Chú thích

1.Việt sử lược , bản dịch của Trần Quốc Vượng, Nxb Thuận Hoá.

2.Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch của Viện Khoa học xã hội Việt Nam , Nxb KHXH, 1998.

3. Trần Nhân Tông,Cư trần lạc đạo phú.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

DigiFest 2026 và tinh thần đưa chuyển đổi số đi vào thực chất
Tại Diễn đàn quốc gia số Việt Nam - DigiFest 2026 vừa qua, các chuyên gia khẳng định, chuyển đổi số không đơn thuần là việc số hóa những quy trình cũ, mà phải kiến tạo những phương thức vận hành mới dựa trên công nghệ số để giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp;tạo ra giá trị mới và động lực tăng trưởng cho nền kinh tế Việt Nam.
Bà Hà Hoàng Yến làm Giám đốc Quỹ VIFOTEC
Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam Phan Xuân Dũng mong muốn bà Hà Hoàng Yến trên cương vị Giám đốc Quỹ VIFOTEC tiếp tục phấn đấu, rèn luyện, sâu sát, phát huy tốt vai trò và nhiệm vụ mới được phân công để góp phần cùng tập thể cán bộ Quỹ VIFOTEC vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.
Quyết định số 185-QĐ/TW: Bộ Chính trị giao 1.878.362 biên chế năm 2026
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 02/6/2026, về biên chế các ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương; cơ quan Mặt trận Tổ quốc, cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương và các tỉnh, thành phố năm 2026.
GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Khoa học chỉ thật sự có giá trị khi đến được với người dân
Từ một cậu học trò nghèo đất Tổ Phú Thọ đến nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, được vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú năm 2025, hành trình của ông là câu chuyện đẹp về lòng say mê tri thức, tinh thần cống hiến và niềm tin bền bỉ vào tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.
VUSTA - cầu nối thúc đẩy hợp tác khoa học, giáo dục giữa cơ sở đào tạo của Việt Nam và Tatarstan
Chiều ngày 08/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) cùng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) đã có cuộc làm việc, trao đổi trực tuyến với Bộ Giáo dục và Khoa học Cộng hòa Tatarstan (Liên bang Nga) cùng đại diện nhiều viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu của Tatarstan nhằm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục đào tạo.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng: VUSTA luôn ủng hộ, hỗ trợ Hội Cơ học Việt Nam tổ chức các sân chơi bổ ích cho sinh viên
Ngày 07/6/2026, tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Hội Cơ học Việt Nam đã long trọng tổ chức Lễ Tổng kết và Trao giải Olympic Cơ học toàn quốc lần thứ 36 năm 2026 khu vực phía Bắc. Đây là sự kiện thường niên có ý nghĩa quan trọng nhằm đánh giá kết quả kỳ thi, biểu dương những thành tích nổi bật của sinh viên, giảng viên và các cơ sở đào tạo trên cả nước.
Bắc Ninh: Ông Ngô Chí Vinh giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội Khóa I
Trong 02 ngày 05 và 06/6, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026-2031. Phiên thứ nhất của Đại hội diễn ra chiều ngày 05/6; phiên chính thức được tổ chức vào sáng ngày 06/6/2026 với sự tham dự của đông đảo đại biểu đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh.