Nên sửa lại cho đúng
1. Chữ Hỗ trợ
Chữ này đang dùng nhan nhản trên đài, báo với ý nghĩa là cho, giúp, cấp… như: Chính phủ hỗ trợtiền vận chuyển hàng hóa đến các vùng sâu, vùng xa; chính quyền địa phương hỗ trợmỗi gia đình bị sụt lở đất 3 triệu đồng; hỗ trợtiền cho các hộ tái định cư… Người dùng mới chỉ thấy ý nghĩa của chữ trợ(là giúp, là cho…) mà quên mất chữ hỗ. Hỗtừ Hán – Việt có nghĩa là lẫn nhau, đắp đổi bên này cùng bên kia; Hỗ trợ là giúp lẫn nhau (Từ điển Hán – ViệtĐào Duy Anh). Như vậy là việc giúp đỡ của cả hai chiều, có đi có lại, giúp lẫn nhau chứ không phải là trợ, trợ giúp của cả trợ cấp… chỉ một chiều…, như cho, cấp, giúp… thí dụ như: Công nghiệp và nông nghiệp hỗ trợcùng phát triển. Công nghiệp giúp nông nghiệp máy móc, công cụ, phân bón, hóa chất… nông nghiệp giúp công nghiệp nông sản nguyên vật liệu như bông, mía, hoa quả…
2. Chữ Khiêm tốn
Chữ này đang được coi là “mốt” dùng để chỉ cái gì còn ít ỏi, thấp kém mà tránh được sự coi thường chê bai. Thí dụ: Kết quả còn khiêm tốn,vốn đầu tư còn khiêm tốn,kim ngạch xuất khẩu giữa hai nước còn khiêm tốn,học vấn còn khiêm tốn…Lẽ ra phải dùng những chữ tương ứng kém, ít, nhỏ, thấp để nói đúng thực chất của vấn đề, chỉ ra được những khiếm khuyết, yếu kém, bất cập, chưa đạt yêu cầu, cần phải phấn đấu hơn nữa. Mặt khác, ý nghĩa của chữ khiêm tốnlà kính nhường (Từ điển Hán – Việt Đào Duy Anh), một đức tính đáng quý, đáng ca ngợi học tập. Như ta thường nói: Bác Hồ rất giản dị, khiêm tốn. Đạt được phẩm chất khiêm tốn không phải là dễ. Bởi vậy, việc dùng tràn lan chữ khiêm tốn làm méo, làm lệch, nếu không nói là làm đảo ngược ý nghĩa vốn có của từ.
Việc trau giồi và sử dụng ngôn ngữ trong sáng, chính xác, phong phú là việc làm cẩn trọng và thường xuyên. Ngôn ngữ ta đã đạt trình độ khá chuẩn so với nhiều ngôn ngữ lớn trên thế giới. Nhiều trường đại học nước ngoài đã mở khoa tiếng Việt hoặc cử sinh viên sang nước ta học tiếng Việt nhằm góp phần củng cố mối quan hệ tốt đẹp với nước ta. Bởi vậy, hơn lúc nào hết, ta cần phải làm tốt việc bồi dưỡng tiếng nước nhà.
Nguồn: Ngôn ngữ và đời sống, 8 – 2006, tr.48








