Nấc - hiện tượng bí ẩn đang được nghiên cứu
Từ thời cổ đại cho tới những năm 50 của thế kỷ trước, nấc được xem như một sự co thắt mạnh của cơ hoành. Còn theo từ điển y khoa Larousse xuất bản năm 1924, nấc được đặc tả như là “một sự co thắt đột ngột kéo dài của cơ hoành, đồng thời lưỡi gà nhanh chóng đóng lại và gây ra co thắt bụng dưới”.
Về mặt sinh lý, nấc là sự co thắt mạnh các cơ hoạt động trong quá trình hít vào (cơ bụng, cơ gian sườn và một vài vùng cơ cổ) đồng thời với sự ức chế các cơ tác động tới việc thở ra. Đường không khí đi vào khoang ngực bị chặn lại do lưỡi gà đóng kín gây ra tiếng nấc rất đặc trưng.
Người ta nhận thấy rằng, dường như chỉ động vật có vú mới có hiện tượng bị nấc. Ở người, nấc xuất hiện từ tháng thứ 20 của thai kỳ và xảy ra rất thường xuyân ở trẻ sơ sinh và trẻ em trong độ tuổi bú sữa mẹ. Và mặc dù chưa có thống kê cụ thể, nhưng hiện tượng nấc xuất hiện giảm dần theo độ tuổi.
Nhưng hiện con người còn biết rất ít về nấc. Thường thì do một tác nhân kích thích tiêu hoá gây ra (ví dụ như vị chua, một số gia vị, đồ uống có ga, có cồn… hay đơn giản khi người ăn quá nhanh). Để chữa nấc, mỗi người có “mẹo” riêng: người ta nín thở hay uống một cốc nước… Liệt kê ra có đến hơn 60 mẹo như vậy, nhưng tất cả đều dựa theo kinh nghiệm và chưa có căn cứ khoa học. cách thức thường được các bà mẹ áp dụng để chữa nấc cho trẻ là cho trẻ ngậm vú mẹ.
Có một cách chữa trị theo dược lý tỏ ra có hiệu quả trong 75% trường hợp là sử dụng chất baclofène. Chất này có tác dụng tương tư như hoạt động của một trong những nơron trung gian gây ức chế của hệ thần kinh trung ương. Người ta còn chưa thực sự hiểu rõ cách thức hoạt động của baclofène, nhưng theo các nghiên cứu thực hiện trên loài mèo, chất này có tác động đến cấu trúc trụ não. Như vậy, hệ thần kinh trung ương có vai trò quan trọng trong cơ chế hình thành nấc.
Giả thuyết thường được nhắc tới nhất cho rằng, nấc xuất hiện ngay từ thời kỳ thai nhi và đó là bước chuẩn bị cho việc thực hiện chức năng của các cơ hô hấp, đặc biệt là cơ hoành. Trong khi các cơ hô hấp co lại, lưỡi gà đồng thời cũng khép lại. Theo giả thuyết này thì điều đó giúp tránh việc nước ối có thể tràn vào phổi. Tuy nhiên, các lá phổi của thai nhi luôn đóng kín nên dường như điều đó là không cần thiết. Hơn nữa, thai nhi cũng có các cử động hô hấp bình thường khác hoàn toàn với nấc.
Một nhóm nhà khoa học người Pháp, Canadavà Nhật bản gồm các bác sĩ và nhà thần kinh học đã đưa ra một giả thuyết hoàn toàn mới về hiện tượng nấc. Khi Chiristian Straus, bác sĩ tâm lý, bác sĩ chuyên khoa hô hấp và hồi sức người Pháp, đã tiến hành nghiên cứu cơ chế chi phối sự phát triển và quá trình điều khiển các cơ quan hô hấp ở động vật lưỡng cư. Từ nghiên cứu này, ông đã phát hiện ra rằng ở nòng nọc, khi không khí đi qua mang (hoạt động hô hấp diễn ra), lưỡi gà đóng lại một cách chủ động, chính xác như trong trường hợp đối với nấc ở người.
Như vậy, có một sự giống nhau kỳ lạ giữa hình thức hô hấp bằng mang và nấc. Về mặt sinh lý, các nhà khoa học thấy rằng cả hai hiện tượng cùng xuất hiện khi chuyển sang hô hấp bằng phổi và cả hai đều bị ức chế bởi dung tích phổi tăng lên và có sự gia tăng lượng khí cacbonic trong phổi và chất baclofène.
Giả thiết của nhóm các nhà khoa học này đã cho phép giải quyết vấn đề về nguồn gốc của nấc. Nguyên nhân nấc phát sinh có thể do tác động của dây thần kinh vận động – nghĩa là hệ thống nơron thần kinh đảm nhiệm phối hợp việc căng các cơ khác nhau, và nó là di chứng từ xa xưa do giữa động vật có vú và loài lưỡng cư có chung một tổ tiên.
Có thể coi nấc như một hiện tượng “dị thường”, nhưng cũng có thể xem đó là phản ứng chệch hướng của động vật có vú trước một tác nhân kích thích nào đó.
T.Similowski, một thành viên nhóm nghiên cứu, trong khi cho con gái bú bình sữa đã phát hiện ra có sự giống nhau giữa hành động bú sữa và quá trình hô hấp bằng mang ở nòng nọc. Khi trẻ bú sữa, vòm miệng dưới lắc lư đều đặn khiến cho sữa đi vào thực quản một cách dễ dàng. Lúc đó, trẻ không hít thở và lưỡi gà được đóng lại (các cử động hô hấp bị ức chế hoàn toàn).
Tuy nhiên, nấc không chỉ đi cùng với cử động đóng lại của lưỡi gà và hoạt động của cơ dưới vòm miệng mà là tất cả các cơ ảnh hưởng tới quá trình hô hấp. Có rất nhiều nguyên nhân chi phối quá trình hô hấp ở động vật có vú. Điều đó có nghĩa là, hệ thống nơron thần kinh có một vai trò nhất định đối với quá trình hô hấp cũng như đối với cơ chế của hiện tượng nấc. Về mặt giải phẫu học, cơ chế hô hấp bình thường (mở lưỡi gà, rồi co các cơ hô hấp) tương đối giống với cơ chế của hành động bú sữa.
Như vậy, có thể cho rằng, giữa hô hấp bằng mang ở nòng nọc và hành động bú sữa ở động vật có vú có cùng một cơ chế phát sinh. Hệ thần kinh tham gia điều khiển hành động bú sữa, nhưng nều có sự sai lệch ở đây, nấc sẽ xuất hiện.
Cũng theo giả thiết trên, hiện tượng nấc xuất hiện trước khi trẻ sinh ra và biết bú sữa. Sau khi trẻ cai sữa mẹ, nấc cũng xuất hiện ít dần đi. Như vậy, các nhà nghiên cứu cho rằng hệ thống nơron thần kinh còn non nớt của trẻ là nguyên nhân gây ra nhiều định hướng sai lệch. Khi trẻ trưởng thành, các cơ chế điều chỉnh phát triển, và trẻ ít bị nấc hơn. Còn với cách chữa nấc nhẹ ở trẻ bằng việc cho trẻ ngậm bình sữa, đó là do sự định hướng sai lệch đã được điều chỉnh thành đúng thông qua hành động bú sữa.
Nấc, cho đến nay vẫn là một bí ẩn mà khoa học cần phải đi tìm lời giải.








