Mùa xuân nói chuyện lễ hội trồng đu
Thẳng hàng và cách cổng cái làng vài trăm mét có ngôi cổ miếu, tương truyền là mộ Tam Vị Đại Vương – Thành Hoàng làng. Hai bên tả hữu miếu trồng si, sanh. Những hàng cổ thụ ấy có từ đời nào, ông nội tôi hỏi cụ cố cũng không rõ. Rễ si, rễ sanh bám vào nhau, bá vai nhau chằng chịt, vặn thừng vặn chão, xoắn xuýt bốn mùa xanh tốt, dài hàng trăm mét. Tiếp nối là những lũy tre gai, ken dày, rắn như thép, gai đâm tua tủa. Tưởng con chuột nhắt không có chỗ đào hang, con chim chích không có nơi làm tổ.Chống trộm cướp và chống bão lụt đấy. Kín đáo và an toàn lắm.
Theo các nhà Địa Chí Học thì xứ Kinh Bắc xưa, ở Hương Lâm (Lạng Giang) có Đình Bơi và Mão Điền (Thuận Thành) có Đình Vật . Tả hữu và mặt tiền ngôi Đình Vật làng tôi có khu ruộng cao ráo, nhất đẳng điền, vài mươi mẫu, ra giêng trồng màu (ngô, đỗ), rồi gieo mạ mùa, chỉ cấy mỗi năm một vụ lúa. Gần đấy lại phá bờ, thông mấy cái thùng đấu to (đã lấy đất làm gạch và vượt thổ đổ nền nhà), thuận tiện cho chèo đò bắt vịt, leo cầu đốt pháo, bắt chạch trong chum và thuyền rồng anh hai chị hai Quan họ giao duyên .
Đình Vật để sân đất, thảm cỏ phẳng lì, chỉ dành cho đô các xới vật Song Giang, Chi Nhị sang đọ tài cao thấp. Những thửa ruộng được chia khu, vạch vôi, đánh cờ người, chọi gà, bịt mắt bắt dê, thổi cơm thi ... (Thí sinh ăn mía lấy bã thổi cơm chứ không được dùng rơm rạ hoặc củi đóm). Quan trọng, đông vui nhất, trung tâm lễ hội không bao giờ thiếu hai cây đu. Một nhỏ hơn, dùng cho các cháu vị thành niên. Một lớn dùng cho trai thanh gái lịch, đôi khi ông già bà cả hồi xuân cũng đánh dối già .
Còn nhờ hồi 1955-56, các nghệ sĩ điện ảnh Ba Lan đã làm một bộ phim màu tài liệu nghệ thuật về cây tre Việt Nam để ca ngợi truyền thống cần cù, dũng cảm, lạc quan và sáng tạo suốt trường kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Nhà văn Thép Mời viết lời thuyết minh cho bộ phim ấy. Bài Cây Tre của Thép Mới giàu hình tượng, truyền cảm và đẹp như một bài thơ. Nhà văn bồi hồi kể về tre, nứa, trúc, mai, vầu, mấy chục loại khác nhau, cùng một mầm non măng mọc thẳng, vào đâu cũng sống, ở đâu cũng xanh tốt, vừa dẻo dai vừa cứng cáp. Tre thanh cao, giản dị, chí khí như người.
Bây giờ tôi xin hầu chuyện quý vị độc giả về công trình trồng đu như sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật của tuổi trẻ quê tôi. Chỉ xin kể mấy loại tre quê tôi có và thường được lựa chọn để trồng đu.
Thứ nhất là tre nghẹ đực , đường kính gốc 30cm, cao tới 12-15mét. Loại tre quý này thường dùng làm cột nhà, bắc cầu qua mương máng. Vì đắt nên không thể xin được. Gia chủ cho anh em mượn dăm bữa, nửa tháng làm cột đu rồi phải trả để ngâm. Tre nghẹ đực cũng như tre gai đực, giống ngắn mà dày, khi già ngâm ba mùa nước, vớt lên để khô kiệt cứ là gẫy cưa mẻ đục.
Cúng Ông Táo lên hầu giờ, giãn rượu, chiều hăm ba tháng chạp, í ới bạn bè rủ nhau đi xin tre. Bốn hoặc sáu cột phải là tre đủ cả gốc, ngọn, không có đốt kiến. Tháng tám tre non làm nhà. Tháng ba tre già chẻ lạt. Làng vào đám tháng hai, tre đổi lá rồi, phải khéo chọn. Mõ đu (bàn đứng chân) không cần to lắm. Lạt thì tre non. Dùng tre gai đặc, cắt khoảng 5 mét gần gốc, không được chẻ, để nguyên, gác hai bên hàng cột làm đòn gánh . Phách đu thì bẩy đoạn dọc, ba đoạn ngang, mỗi đoạn khoảng 6-70cm đục lỗ hổng vào nhau để luồn dây đu . Quan trọng nhất là dây đu, từng đôi, dóng tre vừa cữ tay cầm, rảnh tre tơ (tre bánh tẻ), để dẻo dai có sức bền vật liệu. Dây đu phải đốt qua lửa, nghiêng mình vặn cho tái năm ba dóng gần ngọn để gập xuống, lồng vào phách, néo buộc không bị vỡ. Trồng đu thì phải xem ngày. Nhờ thầy hay chữ bậc nhất trong làng, khoa bảng thì còn gì bằng, chí ít cũng phải thầy đồ, thầy khóa, mở lịch vạn sự, chọn hôm đẹp trời gọi là sạch ngày . Tìm bậc trưởng lão, phu phụ song toàn, tử tôn hưng thịnh, bổ bốn nhát cuốc động thổ đầu tiên (đã được đo và đánh dấu vôi). Cuối cùng phải tìm một đôi trai tân, gái trinh, hợp tuổi nhau, không có tang chở, không bị tứ hành xung , cùng xúm tay vào tra mõ đu. Công phu, cẩn trọng và thiêng liêng lắm.
Đời thiếu gì kẻ dám đánh đu với yêu tinh . Nhưng ở đây thì khác. Đánh đu đôi ở đây theo tín ngưỡng phồn thực là Thái Cực sinh Lưỡng Nghi , âm dương giao hòa, cầu mong phong đăng hòa cốc, mùa màng tốt tươi, con người thịnh vượng.
Gái đảm trai tài đu mới hay/Mắt cười trong mắt tay cầm tay/Sầm sầm đu hạ gieo ngang đất/Thoắt lại bay rồi vút giữa mây(Đu xuân – Duy Phi).
NamĐông, nữ Đoàn. Dân làng và bạn gái bạn trai đứng hai bên hàng cột, đông nghìn nghịt, hồi hộp theo dõi, tưởng thưởng, cổ vũ náo nhiệt, cờ trống tưng bừng nên tâm hồn đôi trẻ phơi phới. Trai gối hạc , gái lưng ong , nhịp nhàng, lựa nhau mà nhún.
Biết ma ăn cỗ chỗ nào. Nhấm nháy hò hẹn từ năm ngoái. Thiên tải nhất thì. Xin ai ở dưới đừng vội bắt/Hãy để mùa xuân những phút bay.
Nguồn: Khoa học và Tổ quốc, số Tết Đinh Hợi, 2007








