Một Tết ở miền Trung của Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp
Nhưng đồng thời cũng là cái Tết mà Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thành lập đã đứng trước những khó khăn, thử thách chưa từng có.
Ở miền Nam, chỉ hơn 20 ngày sau khi Sài Gòn Gia Định khởi nghĩa, giặp Pháp núp sau quân Anh, đã đổ bộ vào hòng chiếm lại Nam Kỳ và cả nước ta.
Còn ở miền Bắc, quân Trung Hoa Quốc dân đảng kéo vào hơn 18 vạn quân, dân binh, mượn danh nghĩa Đồng Minh sang tước khí giới quân phát xít Nhật vừa chiến bại, đã lợi dụng thời cơ chống phá ta, thực hiện âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng.
Tình hình nghiêm trọng như ngàn cân treo trên sợi tóc.
Con thuyền cách mạng vất vả luồn qua muôn vạn thác ghềnh, để tìm lối đi tới.
Đồng chí Võ Nguyên Giáp - người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam - vừa làm xong nhiệm vụ chỉ huy quân sự để Tổng khởi nghĩa thành công, thì đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa sang làm nhiệm vụ mới là nhiệm vụ xây dựng chính quyền, với tư cách là Bộ trưởng Nội vụ.
Việc tổ chức bộ máy chính quyền Trung ương vừa bắt đầu, thì tình hình chiến sự khẩn trương ở miền Trung và miền Nam lại khiến Bác Hồ phải biệt phái Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp làm phái viên đặc biệt vào miền Trung, miền Nam thị sát tình hình để có những quyết định kịp thời.
Ông bắt đầu đi từ ngày thứ ba 15 - 1 - 1946 (tức ngày 13 tháng Chạp Âm lịch). Đi suốt lượt khắp các miền duyên hải, đến cả những nơi đang có chiến sự, tiếp xúc với nhiều bộ đội, nhân dân và các cơ quan đoàn thể địa phương.
Báo Cứu quốcnhững ngày ấy đã viết:
“Với cặp mắt quan sát sâu sắc, với bộ óc am hiểu sáng suốt mọi vấn đề, ông không bỏ sót cái gì mà không nhìn rõ trong tình hình Trung bộ”. Cả tình hình nội bộ của ta và những động thái âm mưu của địch.
Ông đã theo đường đi suốt dọc duyên hải vào đến Nha Trang thì lại thấy cần thiết phải lên Tây nguyên là vùng địch chưa lan tới nhưng riêng ông đã thấy tầm quan trọng chiến lược của cái “mái nhà Đông Dương” này. Ông rất biết cái nhận định: Ai nắm được Tây Nguyên, người ấy sẽ nắm cả toàn bộ Đông Dương.
Và lần cấp tốc lên Tây Nguyên này, ông đã cân nhắc những nhận xét toan tính, để nhất quyết giữ vững Tây Nguyên trong tay ta. Ông nhìn địa hình và tâm thế con người ở đây, hình thành trong óc cả một kế sách. Ông tìm gặp và trao đổi với Lê Kích, người chiến sĩ kiên trung sẽ là con chim đầu đàn của lực lượng cách mạng làm chủ tình hình Tây Nguyên, xây dựng Tây Nguyên thành pháo đài kiên cố chống Pháp ở cả Tây Nguyên và vùng biên giới Hạ Lào.
Vào kinh lý miền Trung ăn Tết với quân, dân tại chỗ, giúp các nơi về kế hoạch củng cố địa bàn để chống quân xâm lược, chưa được đầy một tháng thì tình hình có biến chuyển lớn trên phương diện vĩ mô, Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã nhận được lệnh Bác Hồ gọi ra ngay miền Bắc.
Báo Cứu quốcngày thứ sáu 18 - 2 - 1946 (tức 17 tháng Giêng Âm lịch) đăng tin Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã từ Trung bộ về.
Các nhà báo đến xin gặp, ông đã có một cuộc trao đổi tình hình với báo giới, như một báo cáo thực tế cụ thể:
“Ông cho biết tinh thần của bộ đội lên rất cao.
Ở Bồ Keo, một hôm bộ đội rút lui qua, có một anh lạc ở lại sau, gần một nơi quân Pháp đóng. Anh ta một mình lẩn lút trong rừng, một ngày một đêm, cứ thỉnh thoảng lại bắn một chập súng. Quân Pháp thấy vậy, tưởng có quân ta vẫn đóng ở đâu quanh đó. Chúng sợ bị bao vây, không dám giữ đồn nữa, liền bỏ đồn rút đi, hôm sau mới cho máy bay đến nã súng xuống.
Lại cũng ở Bồ Keo, một bận quân Pháp mang xe thiết giáp đến đánh, có ba anh đội viên tình nguyện, ôm lựu đạn lăn vào xe để phá hủy luôn chiếc xe thiết giáp của địch.
Ở Nha Trang, hôm 28 Tết, quân giặc tiến công.
Chúng cho máy bay đi trước ném bom, dưới tàu chiến thì nã súng đại bác từ ngoài khơi bắn vào, trên bờ thì hơn 200 tên cả Tây lẫn Nhật tiến đánh. Ta có 3 anh đội trưởng hét “xung phong” rồi chạy thẳng lên phía trước, quân ta từ dưới hầm cùng nhảy lên. Trận ấy giết được 27 tên Pháp, đánh chìm được 2 xuồng có gắn súng máy.
Về sinh hoạt của bộ đội, ông nêu lên nhiều cái thiếu: gạo thì đủ ăn, nhưng thiếu thuốc, thiếu quần áo”.
Rời miền biển, lên Tây Nguyên, đến Plây Ku, thấy trên cao nguyên đêm rất lạnh, vậy mà có người trong bộ độ chỉ có một quần đùi, ông nói với các nhà báo:
“Sự tiếp viện từ ngoài Bắc vào thì có thể nói rằng trong hoàn cảnh chung, làm như bây giờ đã thật là hết sức”.
Lời nói của ông là vậy, nhưng trong cái ánh mắt của ông, người ta thấy bao nỗi xúc cảm, ưu tư.
Từ câu nói ấy, cả một phong trào Mùa đông Binh sĩ đã được khởi phát triển khai trong mọi tầng lớp nhân dân.
Trong chuyến đi, ông không chỉ nhằm nắm thực tế địa phương, mà còn sắc sảo nắm cho được những âm mưu diễn biến của quân Pháp.
Ông phát hiện:
“Về mưu mô của quân giặc, thì lúc này chúng đang muốn tấn công riết.
Ở Nam bộ, chúng chiếm các đô thị lớn, rồi theo các đường sông, rạch đánh lan ra các miền quê, định cắt đứt miền Đông với miền Tây.
Ở miền Nam Trung bộ, chúng một mặt định chiếm các tỉnh dọc con đường 14, nhất là Buôn Mê Thuột, mua chuộc dân tộc thiểu số, rồi đánh xuống miền xuôi; một mặt từ biển kéo lên.
Mặt trận Lào rồi sẽ trở nên rất quan trọng. Theo một tài liệu bắt được của quân Pháp, chúng nói rằng nếu lấy được Lào thì việc Bắc bộ có thể định đoạt được”.
Sự cần thiết liên kết Việt - Lào trên một chiến trường chung thực sự đã manh nha trong những toan tính chiến lược của Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp từ những ngày đầu xuân ấy, năm 1946.
Từ cái “mái nhà Đông Dương”, nhìn ra biên giới Việt - Lào - Mên, có thể nói ông đã tính toán đến chiến trường phối hợp ba nước Đông Dương. Những mối liên lạc thắm tình đoàn kết chiến đấu của ông với các hoàng thân Xuphanuvong và Thái tử Norôđôm Xihanuc chứng tỏ điều ấy.
Vừa về đến Hà Nội chưa được quá hai ngày, Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã phải thay mặt chính phủ ra mắt trước đồng bào Hà Nội tại Nhà hát lớn chiều 19 - 12 - 1946 (tức ngày thứ 18 tháng Giêng Âm lịch) để giải thích về tình hình trước mắt. Báo Cứu quốcngay sáng hôm sau đã đưa tin:
“Ông Võ Nguyên Giáp đã làm cho bình tĩnh trở lại lòng người, mặc dù chúng ta đứng trước tình thế nghiêm trọng”.
Nói về chuyến đi công tác trải hơn nghìn cây số vừa qua, xuyên miền duyên hải Trung bộ và lên biên giới Việt - Lào, ông cho biết:
“Dọc đường đi, tôi đã gặp hầu hết các bộ đội Nam tiến.
Thấy tinh thần hăng hái bồng bột của các chiến sĩ, tôi rất cảm phục và cũng có chút lo ngại, cho nên đã dặn dò cặn kẽ:
Các anh em đi vào miền Nam , cái chí nguyện ấy hết sức đáng phục. Nhưng sự gian nan khổ sở cũng không phải là ít. Có khi ra trận sẽ hy sinh, lại có khi thiếu cơm, thiếu áo, thiếu thuốc thang, có khi thất trận, mất liên lạc với bộ đội ở những địa phương xa lạ, tôi mong các anh em sau này, nếu gặp những trường hợp như vậy, thì chớ có chán nản, mà hãy vẫn giữ lấy lòng hăng hái như lúc này đây, lúc chúng ta đang cùng nhau nói chuyện.
Lời dặn dò của tôi quả không phải là thừa.
Dù sau, nghĩ rằng, những người con quý báu nhất của dân tộc lìa nhà, bỏ cửa, đem cả cái tuổi niên thiếu, cả tính mệnh và tương lai mà hy sinh một cách hào hiệp cho đất nước, mà lại phải chịu những nỗi khổ sở về vật chất có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần chiến đấu, trong khi ở hậu phương, ta còn có thể có điều kiện hơn, thì thực không một ai là không thể không cảm động, thương xót.
![]() |
Trong chuyến đi, ông đã dành cho các chiến sĩ cả một tấm lòng.
Còn đối với nhân dân cả nước, ông phân tích tình hình địch - ta, vạch trần những âm mưu của địch, và đối với nhân dân, ông không ngần ngại công khai nói ra cả những khuyết điểm của ta.
Ông nói, và tờ báo Cứu quốcnăm ấy còn ghi rõ:
“Về mặt dân chúng, ở miền Nam chúng ta phạm vào cái khuyết điểm, không chuẩn bị đầy đủ cho dân chúng để phối hợp với bộ đội.
Thứ nhất là dân chúng không chuẩn bị tản cư cho có kế hoạch. Sơ tán người và của, làm vườn không nhà trống, ở thành thị cũng như ở thôn quê, ở đồng bằng cũng như ở rừng núi.
Thứ hai, là dân chúng không chuẩn bị giúp đỡ các bộ đội, phá hoại đường sá, cầu cống để ngăn địch, công cuộc phá hoại tiến hành rất chậm trễ và không triệt để. Chúng ta phải biết rằng nếu chúng ta phá hoại triệt để và kịp thời, thì bao nhiêu xe tăng, xe thiết giáp của địch đều mất hiệu lực, cho nên chúng ta không nên do dự, không nên tiếc.
Thứ ba, là dân chúng chưa tổ chức hoặc tổ chức chưa chu đáo những tiểu tổ du kích, đội du kích do thám địch, đội vận tải giao thông. Nếu dân chúng chuẩn bị đầy đủ những điều nói trên thì sự tiếp tế của địch sẽ bị ngăn trở; vũ khí tối tân của chúng sẽ bị giảm bớt hiệu lực, chúng kéo đến đâu là quân ta đều biết, trái lại ta đang ở đâu thì chúng không rõ, ta có thể đánh úp chúng một cách dễ dàng.
Còn về mặt quân sự, thì ở miền Nam , ta phạm phải một khuyết điểm về chiến thuật
Tôi muốn nói rằng từ trước đến giờ, chúng ta vẫn kêu lớn là chúng ta đánh du kích, nhưng kỳ thực ở Nam , chúng ta chưa hề đánh du kích, hay là mới bước đầu đánh du kích.
Hai trận lớn nhất là trận Sài Gòn - Chợ Lớn và trận Nha Trang đều là trận địa chiến. Ở Buôn Mê Thuột, trên con đường đi Ninh Hòa, quân ta cũng chỉ dùng toàn trận địa chiến mà chống lại quân địch.
Cố nhiên, có khi ta đánh trận địa chiến, nhưng đó chỉ là phụ, bao giờ ta cũng phải bố trí và thực hiện chiến thuật du kích mới có thể đi đến thắng lợi. Chúng ta phải giữ gìn thực lực; phải luôn luôn quấy rối quân thù, phải kiếm cách tiêu diệt từng bộ phận nhỏ của chúng; phải làm thế nào mà càng đánh ta càng mạnh; và nhất là phải chủ trương bồi dưỡng lực lượng, chứ không phải là cố thủ thành trì đất đai.
Những kinh nghiệm trên, quân và dân ta nên ghi nhớ, để từ đây sẽ áp dụng cho triệt để”.
Vốn là một giáo sư sử học, khi phân tích tình hình trước dân chúng, ông đưa ra một cái nhìn lịch sử.
“Đời Trần, trước sức tiến vũ bão của quân Nguyên, quân ta đã phải bỏ cả Bắc bộ, vậy mà kết cục quân ta cũng phá tan được quân Mông Cổ. Huống chi tình thế ngày nay của chúng ta còn lợi hơn xưa nhiều.
Tình thế cố nhiên là nguy hiểm, nhưng không đáng lo ngại…
Trước tình thế nghiêm trọng này, chúng ta phải đối phó như thế nào? Bằng một phương pháp đã từng đề xướng, mà báo chí đã nhắc nhở nhiều lần, nhưng chúng ta chưa thực hiện, hay đã thực hiện một cách không đầy đủ. Phương pháp ấy là chuẩn bị trường kỳ kháng chiến.
Muốn chuẩn bị trường kỳ kháng chiến trước hết phải có tinh thần trường kỳ kháng chiến. Nghĩa là, thấy chiến tranh kéo dài hay lan rộng, thì chuẩn bị đối phó mà không hoang mang. Phải có một tinh thần chịu đựng gian khổ không có khó khăn nào lay chuyển được.
Rồi phải thế nào nữa? Lại nói chuyện cũ. Phải đoàn kết cho chặt chẽ! Phải nhận định cho rõ mục đích của sự đoàn kết là để cứu quốc, đánh tan tất cả những lý luận chia rẽ, hoặc lợi dụng sự ham mê quyền lợi hàng ngày của một giới nào mà chia rẽ. Các bạn! Giờ phút này nghiêm trọng, các bạn hãy để cho ngọn lửa công tâm vị quốc nó tiêu hủy tất cả các mối chia rẽ ấy đi, để mà đoàn kết nhau lại, đoàn kết thêm mãi, đoàn kết một cách chân thành.
Rồi phải thế nào nữa? phải tin tưởng ở tương lai! Đánh tan tất cả các luồng điện thất bại chủ nghĩa.
Ta không có vũ khí tối tân ư! Nhưng ta vẫn tin ở tương lai, vì chính nghĩa về phía ta, vì ta kiên quyết đánh đến cùng, vì ta đánh ở nước ta, còn bọn thực dân là một bọn ngoại xâm đi hành binh ở nước ngoài.
Ta gặp khó khăn về ngoại giao ư! Nhưng ta vẫn tin ở thắng lợi. Ta có thể chiến đấu để gây thực lực, và thực lực sẽ quyết định ngoại giao”.
Tất cả những gì Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp nói với đồng bào Hà Nội và đồng bào cả nước ngày đầu xuân năm Bính Tuất ấy, trải qua 60 năm, đã được lịch sử hoàn toàn nghiệm đúng.
Tầm nhìn chiến lược của một bậc tài trí văn võ song toàn, người học trò tin cẩn của Hồ Chủ tịch.









