Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 18/02/2008 16:45 (GMT+7)

Một số vấn đề về công nghiệp và môi trường nông thôn Vĩnh Phúc

Thực trạng phát triển công nghiệp và môi trường nông thôn Vĩnh Phúc

Thời gian qua, các khu công nghiệp đã trở thành điểm quan trọng trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư, góp phần quan trọng vào việc phân công lao động theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc.

Theo Ban Quản lý các Khu Công nghiệp và Thu hút đầu tư Vĩnh Phúc, tính đến hết tháng 11.2007, toàn tỉnh đã thu hút được 491 dự án (gồm 361 trong nước, giá trị trên 22 tỷ đồng và 130 dự án nước ngoài, giá trị gần 1, 7 tỷ USD), đứng thứ 7 cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài. 6 tháng đầu năm 2007, mức tăng trưởng công nghiệp của Vĩnh Phúc dẫn đầu cả nước với tỷ lệ 55,7%. Tỉnh đã quy hoạch được 29 khu công nghiệp và cụm công nghiệp, trong đó có một số khu công nghiệp lớn như: Kim Hoa, Khai Quang, Quang Minh, Bình Xuyên, Tiền Phong, Tân Tiến, Hương Canh, Lai Sơn, Xuân Hoà...

Sự tăng trưởng kinh tế đã giúp tỉnh tự cân đối được ngân sách và có đóng góp cho trung ương, nhưng bên cạnh đó cũng tạo ra áp lực lớn đối với nhiều dạng tài nguyên và đặt môi trường sống đứng trước nhiều thách thức. Một số khu vực của Vĩnh Phúc đang bị ô nhiễm nặng. Khói bụi, chất thải công nghiệp, nhất là hoá chất đã qua sử dụng gây ảnh hưởng xấu tới nhiều nơi, nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm, môi trường sản xuất và môi trường sống ở nhiều khu dân cư nông thôn bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Thực trạng môi trường nông thôn Vĩnh Phúc được đánh giá khái quát như sau:

Về nguồn nước:Nhìn chung nước sinh hoạt của người dân nông thôn hiện nay chưa được kiểm soát về chất lượng. Những năm gần đây, chất lượng nước mặt đang có chiều hướng suy giảm. Nồng độ các chất ô nhiễm đều có chiều hướng gia tăng, nhiều chỉ tiêu đã vượt tiêu chuẩn cho phép như: COD, BOD5, NH3, Coliform... Kết quả phân tích cho thấy, nước ngầm cũng đã có dấu hiệu ô nhiễm: Hàm lượng mangan trong nước vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2, 84 đến 5, 78 lần, hàm lượng đồng vượt 1, 16 lần. Nhiều điểm quan trắc, hàm lượng sắt vượt tiêu chuẩn cho phép. Đặc biệt, hầu hết các điểm có dấu hiệu nước ngầm bị nước mặt xâm nhập.

Khói bụi nhà máy
Khói bụi nhà máy
Về môi trường không khí và tiếng ồn:Tại hầu hết tại các vị trí quan trắc, nồng độ bụi đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1, 3 đến 6,3 lần. Các khu dân cư gần đường giao thông, khu công nghiệp bị ô nhiễm nặng hơn các khu vực khác. Nồng độ SO2 ở nhiều khu đô thị, khu dân cư gần các khu công nghiệp hay các tuyến giao thông chính đãvượt tiêu chuẩn cho phép và đang có chiều hướng gia tăng. Kết quả đo đạc trong các năm qua cho thấy tại hầu hết các điểm quan trắc, cường độ ồn đều vượt tiêu chuẩn cho phép và đang có chiều hướngtăng dần.

Về chất thải rắn:Hoạt động thu gom chất thải rắn sinh hoạt hiện nay chưa đáp ứng được tình hình thực tế. Đối với chất thải rắn sinh hoạt ở khu vực nông thôn thì hầu như chưa được tổ chức thu gom mà chủ yếu vẫn đổ thải tự do. Toàn tỉnh hiện có 2 bãi chôn lấp rác. Tuy nhiên, các bãi này chưa được thiết kế và xây dựng đạt tiêu chuẩn quy định, rác thải được xử lý bằng biện pháp chôn lấp thông thường, quy trình xử lý rất đơn giản, không đảm bảo vệ sinh môi trường.

Về ô nhiễm đất:Hoạt động sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm môi trường đất (do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học...). Nhìn chung môi trường đất đã có dấu hiệu bị ô nhiễm, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật đã thấy xuất hiện nhiều ở trong các mẫu phân tích. Với tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và hoá chất nông nghiệp như hiện nay thì khó có thể tránh khỏi sự suy thoái tài nguyên đất.

Một số vấn đề đặt ra trong công tác bảo vệ môi trường nông thôn

Mặc dù được tái lập gần 10 năm nay, nhưng tỉnh Vĩnh Phúc mới chỉ xây dựng Chiến lược bảo vệ môi trường, mà chưa có quy hoạch môi trường, trong đó có môi trường nông thôn. Xuất phát từ quan điểm, mục tiêu bảo vệ môi trường nông thôn Vĩnh Phúc, căn cứ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 và định hướng đến 2020, xin đưa ra một số nội dung chủ yếu cần tập trung trong công tác bảo vệ môi trường thời gian tới như sau:

Quy hoạch quản lý, sử dụng nguồn nước

Cần tập trung vào một số biện pháp: Hạn chế đến chấm dứt việc phá rừng làm rẫy cấy lúa nương để phòng chống lũ quét, lũ ống, xói mòn đất và bảo vệ nguồn nước. Khai thác hợp lý và cân đối giữa các nguồn nước: Nước mưa, nước mặt, nước ngầm. Tăng cường sử dụng nước suối, nước ngầm phục vụ sinh hoạt và công nghiệp. Xây dựng quy hoạch tổng thể các lưu vực sông và theo lãnh thổ. Nghiên cứu công nghệ dùng nước thích hợp, kỹ thuật xây dựng công trình giảm tổn thất nước.

Quy hoạch hệ thống thoát nước và xử lý nước thải

Xử lý nước thải sinh hoạt: Cần tận dụng các ao hồ sẵn có để xử lý nước bằng phương pháp hồ sinh học. Quy hoạch chi tiết hệ thống thoát nước mưa và nước thải. Nước thải sinh hoạt phải được xử lý thông qua bể vệ sinh tự hoại, sau đó mới đổ vào nguồn thải chung.

Xử lý nước thải công nghiệp: Tất cả các khu công nghiệp bắt buộc phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải riêng và được quy hoạch trong các dự án xây dựng khi xin phép. Quy hoạch hệ thống xử lý nước thải và rác thải công nghiệp, phân khu chức năng theo mức độ ô nhiễm để kết hợp xử lý nước và rác thải. Nước thải của từng nhà máy đều phải được xử lý theo các quy trình công nghệ phù hợp. Tận dụng nước thải đã qua xử lý để phục vụ nông nghiệp và sử dụng nước hồi quy trong nông nghiệp. Đối với các khu công nghiệp, nước mưa và nước thải phải được bố trí đường thoát riêng.

Quy hoạch, xử lý chất thải rắn

Thu gom và xử lý triệt để các chất thải chăn nuôi quy mô lớn, chất thải y tế phải có lò xử lý. Nơi nào chưa có lò xử lý phải có lực lượng chuyên trách thu gom, vận chuyển riêng các loại chất thải nguy hiểm này để xử lý tập trung. Các chất thải rắn nguy hại bắt buộc phải đăng ký thành phần và nơi phát sinh, phải được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi thải ra. Chất thải công nghiệp cần được phân loại trước khi trung chuyển. Tổ chức phân loại rác tại hộ gia đình. Phân loại riêng các chất thải độc hại, chất thải thông thường, chất thải có thể tái chế… để mang đi chôn lấp, tiêu huỷ hoặc tái chế sử dụng lại. Có các trạm thu gom chất thải nông nghiệp độc hại như chai lọ, bao bì chứa thuốc và hóa chất bảo vệ thực vật. Cần quy hoạch thiết kế và xây dựng các bãi thải và vị trí đổ thải phù hợp. Giám sát và quản lý các bãi chứa thải, kiểm soát mức độ gây ô nhiễm, nguy cơ trượt lở đất và trôi lấp bãi thải. Đẩy mạnh việc áp dụng sản xuất sạch trong nông nghiệp. Có biện pháp phục hồi và tái tạo các khu đất bãi thải…

Quy hoạch hệ thống các khu nghĩa trang, nghĩa địa

Trước khi xây dựng, các cấp phải lưu ý đến quy hoạch nghĩa trang nhằm sử dụng có hiệu quả đất đai và đáp ứng yêu cầu về cảnh quan, bảo vệ môi trường. Tất cả các nghĩa trang đều phải được xây dựng theo quy hoạch chung và được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Mỗi dự án xây dựng nghĩa trang, nghĩa địa mới đều phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, thiết kế các phương án thoát nước, xử lý nước thải. Không quy hoạch khu nghĩa trang, nghĩa địa mới gần khu vực dân cư.

Quy hoạch hệ thống các điểm quan trắc môi trường

Bao gồm các điểm quan trắc môi trường nước mặt, nước ngầm, môi trường đất, môi trường khu công nghiệp, môi trường đô thị... để đo các chỉ tiêu, phân tích, đánh giá mức độ ô nhiễm và giám sát môi trường.

Vĩnh Phúc là một tỉnh mới được tái lập có tốc độ phát triển công nghiệp cao, đóng góp đáng kể cho nguồn thu ngân sách của tỉnh. Tuy nhiên, để giải quyết hài hoà giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường theo hướng bền vững, việc xây dựng quy hoạch môi trường tỉnh, đặc biệt là quy hoạch môi trường nông thôn đến năm 2010, định hướng đến 2020 là rất cần thiết. Việc quy hoạch môi trường nông thôn sẽ đưa ra các định hướng có tính chiến lược, các chương trình hành động ưu tiên để giải quyết tốt nhất các vấn đề môi trường nông nghiệp, nông thôn nhằm tạo nên môi trường sống trong sạch và không ngừng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh.

Nguồn: Hoạt động khoa học, số 12/2007, tr 28

Xem Thêm

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.