Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 30/06/2011 21:14 (GMT+7)

Một số vấn đề liên quan đến việc xây dựng và công bố chuẩn đầu ra ở các trường đại học nước ta hiện nay

1. Những lợi ích khi xây dựng và công bố chuẩn đầu ra (CĐR)

Hiện nay, theo yêu cầu của Bộ GD-ĐT, việc xây dựng và công bố CĐR đang trở thành vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều cơ sở đào tạo (ĐT) ở Việt Nam . Bởi vậy, khi một trường đại học xây dựng và công bố CĐR sẽ mang lại lợi ích cho nhiều phía: 1) Với nhà trường:việc xây dựng CĐR cho các chương trình ĐT nhằm bảo đảm sinh viên (SV) tốt nghiệp có được những kiến thức,kĩ năng (KN), năng lực phù hợp với lĩnh vực được ĐT. CĐR xác nhận kết quả mà người học cần đạt được sau quá trình học tập ở trường (nhằm khẳng định chất lượng sản phẩm ĐT của trường, đáp ứng được nhu cầu của xã hội). Mặt khác, đây cũng là những phương hướng thiết kế các hoạt động dạy - học đảm bảo chất lượng sản phẩm ĐT, góp phần thực hiện chủ trương "ba công khai" của Bộ GD-ĐT. Thêm vào đó, công bố CĐR còn là lợi thế khi các trường muốn tăng chỉ tiêu ĐT; 2) Đối với GV:giúp GV tập trung vào những KN và kiến thức mà họ mong muốn SV đạt được; 3) Đối với người học:Giúp người học có được thông tin về ngành học mà họ quan tâm cũng như những mong đợi của xã hội để phấn đấu trong học tập và rèn luyện bản thân; 4) Đối với nhà tuyển dụng:Cung cấp thông tin cho nhà tuyển dụng về những kiến thức và các KN của SV sau khi tốt nghiệp; 5) Đối với Bộ GD-ĐT:CRDDR là một trong những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng ĐT của từng cơ sở ĐT và toàn ngành, là cam kết của các cơ sở giáo dục đại học về chất lượng ĐT với xã hội cũng như về năng lực của người học sau khi tốt nghiệp.

2. Một số khó khăn thường gặp khi xây dựng và công bố CĐR

1) Đáp ứng các tiêu chí phụ đa dạng của các nhà tuyển dụng

Khi xây dựng CĐR, các trường phải căn cứ vào mục tiêu ĐT của từng ngành nghề, yêu cầu của xã hội về ngành nghề đó để xây dựng "chuẩn" sao cho SV khi ra trường có thể đáp ứng yêu cầu công việc của thực tế. Tuy nhiên, để đáp ứng được yêu cầu thực tế là công việc thì các doanh nghiệp sẽ là đơn vị nắm rõ nhất những tố chất cần có của một ứng viên. Do đó, vai trò của doanh nghiệp trong việc xây dựng "CĐR" là không thể thiếu. Nhưng những yêu cầu đa dạng của các doanh nghiệp khiến các trường (dù rất cố gắng) cũng khó đáp ứng đầy đủ được. Một khó khăn khác là xã hội hiện đại với công nghệ thay đổi nhanh chóng, do vậy đòi hỏi "đầu ra" cũng không được lạc hậu với yêu cầu của nhà tuyển dụng; với nhiều chuyên ngành đòi hỏi KN khác nhau thì "chuẩn" lại khác nhau, thậm chí, cùng một chuyên ngành nhưng các trường khác nhau có "CĐR" không giống nhau. Thực tế cho thấy, nếu dựa trên website mà các trường đã công bố thì vẫn chưa có sự thống nhất chung về chuẩn trong từng ngành cụ thể…

2) Mâu thuẫn giữa năng lực của nhà trường và yêu cầu của xã hội

Thông thường, mỗi trường khi đã xây dựng được "chuẩn" thì phải công bố "chuẩn". Tuy nhiên, đây là điều khó khăn đối với các trường. Vì đã công bố thì phải thực hiện. Nhưng nếu công bố CĐR đúng với thực lực ĐT của trường có thể xã hội không chấp nhận vì cho rằng những chuẩn mà nhà trường đề ra quá thấp, không đáp ứng được yêu cầu xã hội; ngược lại, nếu đưa ra những tiêu chuẩn quá cao mà không thể thực hiện được thì không đúng cam kết đã hứa.

Hiện nay, hầu hết các trường đại học ở nước ta đang gặp 2 trở ngại là khả năng ngoại ngữ và thực hành của SV. Do đặc thù của một nước nông nghiệp nên đa số SV xuất thân từ các vùng miền khác nhau (đặc biệt chiếm đa số là SV nông thôn). Nếu căn cứ theo CĐR để xây dựng chuẩn ngoại ngữ TOEIC (một chứng chỉ về trình độ ngoại ngữ) cho SV ra trường ở mức 350 (chỉ là mức bình thường, chấp nhận được), nhà trường cần phải sắp xếp từ 250-300 tiết dạy. Tuy nhiên, nếu dành quá nhiều thời gian cho môn ngoại ngữ thì thời lượng dành cho các môn khác sẽ bị thu hẹp. Một khó khăn khác là KN thực hành của SV nhìn chung rất thấp. GV có thể dạy về kiến thức nhưng KN thì phải gắn với điều kiện cơ sở vật chất như phòng thí nghiệm, thực hành, trong khi nhiều trường không có cơ sở vật chất hoặc có nhưng không đáp ứng được yêu cầu.

3. Một số điểm cần chú ý trong quá trình xây dựng và công bố CĐR

1) Cơ sở pháp lí:Tùy thuộc vào phương thức ĐT, các trường sẽ chọn quyết định của Bộ GD-ĐT ban hành phù hợp. Đối với các trường ĐT theo học chế tín chỉ thì dựa trên cơ sở Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/8/2007 của Bộ GD-ĐT về Quy chế ĐT ĐH và CĐ hệ chính quy theo Quyết định số 25/2006/QĐ-BGD-ĐT ban hành ngày 26/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT; Công văn số 2196/BGD-ĐT-GDĐH ngày 22/4/2010 của Bộ GD-ĐT về hướng dẫn xây dựng và công bố CĐR ngành ĐT và căn cứ vào sứ mạng, mục tiêu GD-ĐT và định hướng phát triển của trường trong tương lai.

2) Các tiêu chí đánh giá chất lượng SV theo CĐR

a) Về mặt kiến thức: có kiến thức chuyên môn đủ sâu, rộng để hoạt động tốt trong lĩnh vực của mình, có khả năng áp dụng kiến thức đã học vào hoạt động thực tế;

b) Về mặt KN: Năng lực chuyên môn và năng lực thực hành nghề nghiệp: nắm vững các nguyên lí, nguyên tắc, quy luật cơ bản của lĩnh vực chuyên môn trong tương lai; KN xử lí tình huống, giải quyết vấn đề: có năng lực sáng tạo để thực thi các giải pháp cho một vấn đề thực tiễn, giám đề xuất những giải pháp khác biệt so với các giải pháp truyền thống; KN giao tiếp: ứng xử khéo léo, khôn ngoan trong đàm phán, chuẩn mực trong phát ngôn, thể hiện văn hóa, văn minh mọi nơi, mọi lúc; KN làm việc theo nhóm: luôn biểu lộ thái độ gần gũi, thân thiện, hòa đồng với tập thể, biết xây dựng khối đại đoàn kết trong tập thể; có khả năng diễn đạt ý tưởng gọn gàng, trong sáng, khúc chiết; có năng lực tiếp thu, phân tích và tổng hợp ý kiến; biết cách gợi ý để tranh thủ ý kiến của đồng nghiệp; sử dụng thành thạo các công cụ làm việc từ xa theo nhóm; Khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học: Khả năng đọc tài liệu, viết báo cáo, trao đổi bằng tiếng nước ngoài chuẩn mực; biết sử dụng thành thạo tin học để thao tác chuyên môn.

c) Về mặt thái độ(bao gồm phẩm chất đạo đức, ý thức nghề nghiệp, trách nhiệm công dân): biểu hiện lòng yêu nước, yêu đồng bào, tinh thần tự hào dân tộc; biết vận dụng đường lối, chủ trương, chính sách của nhà nước vào tình hình công tác cụ thể; có lí tưởng, hoài bão tốt đẹp, không ngừng phấn đấu học tập, rèn luyện để phục vụ Tổ quốc; biết đặt lợi ích tập thể trên lợi ích cá nhân; có ý thức nghề nghiệp đúng đắn, trung thực trong khoa học; nhận thức đúng đắn về các giá trị xã hội và có thái độ ứng xử phù hợp với các giá trị đó; có tinh thần vị tha, thương yêu mọi người; có ý thức bảo vệ môi trường và cải thiện cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn; khả năng cập nhật kiến thức, sáng tạo trong công việc: có năng lực xác định được những vấn đề chuyên môn cần nghiên cứu; biết tổ chức, tìm kiếm thông tin phục vụ hoạt động chuyên môn; có tính cần cù, nhẫn nại, tự tin khi thực hiện nghiên cứu khoa học.

d) Vị trí làm việc sau khi ra trường:có khả năng tìm kiếm và đảm nhận các công việc trong ngành đã được ĐT hoặc các ngành liên quan phù hợp với CĐR.

đ) Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi ra trường:có khả năng tự học và học tập suốt đời để không ngừng nâng cao tri thức; biết tự đánh giá năng lực, có phương pháp, chiến lược học tập phù hợp với bản thân; chủ động, linh hoạt thích ứng với những thay đổi của công việc và cuộc sống.

STT

Nhóm tiêu chí

Giải pháp thực hiện

Đánh giá

Điểm tối đa

1

Kiến thức chuyên môn, năng lực nghề nghiệp

- Phương pháp giảng dạy tiên tiến.

- Chương trình ĐT được kiểm định chất lượng.

- Đảm bảo đúng tỉ lệ SV/GV; số lượng GV/lớp.

- Mỗi nhóm SV có một GV cố vấn học tập, nghiên cứu.

- Tăng cường số lượng các môn học tự chọn.

- Tăng cường thực hành, thực tập.

- Mời cán bộ thực tiễn báo cáo chuyên đề…

- Kết quả học tập, tốt nghiệp tại trường.

- Kết quả đánh giá của doanh nghiệp về thực tập và các chuyên đề thực tiễn.

- Kết quả phỏng vấn xin việc sau khi tốt nghiệp.

50

2

Kĩ năng

- Nắm vững công nghệ thông tin.

- Có khả năng giảng dạy các môn chuyên ngành bằng ngoại ngữ theo chuẩn quốc tế.

- Thực hiện các bài tập, đồ án, đề tài tốt nghiệp theo nhóm.

- Hợp tác chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp để nâng cao chất lượng các đợt thực tập.

- Mở rộng giao lưu giữa SV của trường với bên ngoài.

- Tập dượt khả năng quản lí, chỉ huy thông qua việc tổ chức các nhóm nghiên cứu, các nhóm học tập, các tổ chức đoàn thể…

- Trình độ ngoại ngữ được đánh giá bằng các chuẩn quốc tế.

- Khả năng sử dụng thành thạo công nghệ thông tin.

- Khả năng giao tiếp và xử lí vấn đề nhanh, có hiệu quả.

- Kết quả hoạt động của tổ, nhóm chuyên môn và đoàn thể.

20

3

Thái độ

- Giáo dục công tác chính trị, ý thức công dân.

- Tham gia tích cực hoạt động Đoàn thanh niên, Hội SV; các hoạt động xã hội…

- Điểm giáo dục chính trị đầu năm.

- Nhận xét của các tổ chức đoàn thể.

15

4

Năng lực tự học, tự nghiên cứu và tiềm năng phát triển

- Có khả năng thiết kế lại các giáo trình, mỗi môn học phải nêu rõ những vấn đề mang tính nguyên lí, quy luật tổng quát trước, sau đó mới đến phần ứng dụng;

- Rèn luyện KN nghiên cứu khoa học ngay từ những năm đầu tiên.

- Mỗi SV có quyền lựa chọn những vấn đề nghiên cứu phù hợp với năng lực và sở thích của bản thân dưới sự hướng dẫn của GV.

- Tổ chức thảo luận nhóm, thuyết trình, báo cáo đề tài.

- Cùng GV giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra trong sản xuất và đời sống….

Kết quả nghiên cứu khoa học, các cuộc thi sáng tạo SV.

- Đánh giá của GV hướng dẫn về năng lực nghiên cứu phát triển.

15

Tổng số điểm đánh giá đầu ra SV:                            100

3) Các phương pháp đánh giá tiêu chí của CĐR

Khi có các tiêu chí của CĐR, các nhà quản lí giáo dục phải dự kiến được những phương pháp đánh giá phù hợp. Chẳng hạn, các tiêu chí nêu trên (gồm 10 chuẩn) có thể gộp thành 4 nhóm (với các giải pháp thực hiện và mức độ đánh giá) như sau:

Xây dựng CĐR là một việc làm mới, dù công việc này còn nhiều khó khăn nhưng đã đáp ứng yêu cầu của công tác ĐT nguồn nhân lực, sự mong chờ của doanh nghiệp, xã hội. CĐR còn là cơ hội để các trường tự khẳng định chất lượng GD-ĐT trước yêu càu ngày càng cao của xã hội và quá trình hội nhập quốc tế. cùng với chủ trương "ba công khai", xây dựng và công bố CĐR sẽ là "kênh" thông tin quan trọng làm cho giáo dục đại học Việt Nam ngày càng gần hơn với trình độ giáo dục đại học của khu vực và thế giới.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.