Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 29/12/2010 20:20 (GMT+7)

Một số tồn tại và giải pháp quản lý, khai thác, sử dụng thủy điện ở Việt Nam

Các hồ chứa thủy điện và công trình thủy điện tuy đã được khai thác phục vụ nhiều ngành nhưng trong quy hoạch, xây dựng, quản lý khai thác thủy điện vẫn còn một số tồn tại cần sớm được khắc phục.

Quy hoạch và thiết kế các công trình thủy điện

Trong quy hoạch, thiết kế các công trình thủy điện hầu như là chưa chú ý đến hiệu quả tổng hợp kinh tế - xã hội – môi trường. Các công trình thường chỉ chú rọng tới hiệu quả về phát điện nên mục tiêu cấp nước cho sinh hoạt, tưới, giao thông, môi trường chỉ là kết hợp sử dụng nước, mang tính “ăn theo”.

Trong quy hoạc và thiết kế các công trình thủy điện, thường chú trọng đến hiệu quả kinh tế phát điện, chưa đưa yêu cầu phòng lũ cho hạ du như là một trong những nhiệm vụ chính của công trình, ở nhiều công trình thủy điện, nhiệm vụ chống lũ cho hạ du chỉ được xem là nhiệm vụ kết hợp, vì thế không có dung tích dành riêng cho cắt lũ và việc phòng lũ cho hạ du được thực hiện bằng cách hạ thấp mực nước trước lũ xuống thấp hơn mực nước dâng bình thường, không đáp ứng yêu cầu phòng chống lũ.

Ở một số công trình thủy điện, dung tích phòng lũ thường bị “giảm nhỏ dần” theo các giai đoạn từ quy hoạch, thiết kế đến vận hành công trình. Chẳng hạn, hồ chứa sông Ba Hạ trên lực vực sông Ba, yêu cầu phòng lũ cho hạ du để bảo vệ an toàn cho thị xã Tuy Hòa và các khu dân cư, kinh tế quan trọng vùng đồng bằng hạ du rất lớn, tuy nhiên dung dịch phòng lũ bị cắt giảm từ 256,5 triệu m3 ở giai đoạn quy hoạch xuống 167,3 triệu m3 trong giai đoạn nghiên cứu khả thi và tiếp tục giảm trong khâu thiết kế kỹ thuật khi áp dụng phương pháp hạ thấp mực nước trước lũ xuống thấp hơn 2,5 m so với mực nước dâng bình thường.

Trong thiết kế lựa chọn dung tích chết và mực nước chết của hồ thường được lựa chọn nhằm nâng cao cột nước áp lực để tăng hiệu quả phát điện. Nhiều hồ thủy điện có mực nước chết rất cao, chỉ thấp hơn mực nước dâng bình thường 2 – 3 m, tạo ra một dung tích chết rất lớn, có khi bằng hoặc lớn hơn cả dung tích hữu ích của hồ, nên không tận dụng được tối đa nguồn nước trong hồ. Điều này dẫn đến các hồ chứa, tuy đảm bảo hiệu quả phát điện nhưng hiệu quả sử dụng tổng hợp, đa mục tiêu của nguồn nước bị hạn chế do một lượng nước khá lớn chỉ để nâng cao cột nước phát điện. Nếu nghiên cứu xây dựng một quy trình vận hành hợp lý, sử dụng tổng hợp nguồn nước cho cả phát điện cấp nước, duy trì dòng chảymôi trường hạ du thì có thể khai thác hiệu quả hơn lượng nước trong phần dung tích chết, đối với hệ thống thủy điện bậc thang thì lượng nước ở bậc thang trên còn được sử dụng cho phát điện ở bậc thang dưới và nâng cao cả hiệu quả phát điện, chống lũ, cấp nước, bảo vệ môi trường của toàn hệ thống.

Quản lý, vận hành các công trình thủy điện

Trong quản lý, vận hành công trình thủy điện, đã bắt đầu chú ý hơn đến công tác phòng lũ, tuy nhiên nhiệm vụ cấp nước, bảo vệ môi trường ở hạ du còn chưa quan tâm đúng mức, đồng thời chưa đặt vấn đề khai thác, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước một cách đầy đủ nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng đa mục tiêu nguồn nước các hồ chứa thủy điện. Quy trình vận hành của các nhà máy thủy điện hiện nay chủ yếu phục vụ phát điện, sự phối hợp với các ngành dùng nước còn hạn chế nên chưa phát huy được hiệu quả sử dụng tổng hợp nguồn nước giữa phát điện và sử dụng nước của các ngành. Có ba vấn đề tồn tại cần xem xét trong quản lý, vận hành công trình thủy điện là:

Thứ nhất, chưa có sự phối hợp giữa quá trình vận hành, xả nước của các nhà máy thủy điện và yêu cầu dùng nước ở hạ lưu nên các ngành chưa sử dụng một cách hiệu quả nhất lượng nước mà công trình thủy điện xả xuống hạ du. Thực tế này đã làm giảm hiệu quả sử dụng đa mục tiêu nguồn nước được tạo ra từ các công trình thủy điện.

Thứ hai,các nhà máy thủy điện hiện nay đều vận hành phát điện hàng ngày theo chế độ phủ đỉnh, trong đó để tạo ra hiệu quả sản xuất điện năng cao nhất nên vào ban đêm, lượng nước qua tuốc bin xả xuống hạ lưu giảm đến mức tối thiểu, hoặc có khi ngưng hẳn, thực tế này gây mâu thuẫn và ảnh hưởng đến sử dụng nước của các ngành khác ở hạ du. Ngoài ra, việc vận hành hệ thống công trình thủy điện bậc thang là một biện pháp vô cùng quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng đa mục tiêu nguồn nước của hệ thống các công trình thủy điện. Tuy nhiên, công tác này chưa được chú ý, quan tâm đúng mức nên không phát huy được tối đa hiệu quả sử dụng nguồn nước của toàn hệ thống bậc thang, đây là một hạn chế cần tiếp tục nghiên cứu và giải quyết.

Thứ ba,do việc tổ chức quản lý và và lập kế hoạch đầu tư, khai thác phục vụ thủy sản, du lịch, giải trí của các hồ thủy điện chưa thích đáng nên hiệu quả sử dụng nước các hồ chứa trong thực tế còn rất hạn chế. Nhiều hồ không tổ chức và quản lý chặt chẽ việc nuôi cá trong hồ, để người dân tự do đánh bắt, tình trạng sử dụng mìn và xung điện đánh bắt cá vẫn thường xuyên xảy ra, làm cạn kiệt nguồn cá trong hồ. Một số hồ chứa như hồ Trị An, Dầu Tiếng... đã cho người dân và các doanh nghiệp nuôi cá lồng trong lòng hồ, bên cạnh đó, công tác tổ chức và quản lý chưa chặt chẽ nên đã xảy ra tình trạng ô nhiễm nước hồ, ảnh hưởng đến chất lượng nước cho sử dụng ở hạ du.

Có thể thấy, hiệu quả sử dụng nguồn nước của các công trình thủy điện cho phát điện, cấp nước và phòng lũ cho hạ du khá rõ nét. Tuy nhiên, do cách xem xét và giải quyết trong quy hoạch, thiết kế và quản lý, vận hành các công trình thủy điện đã xây dựng thời gian qua chưa toàn diện, chưa hợp lý, dẫn đến hiệu quả sử dụng đa mục tiêu nguồn nước của các công trình thủy điện chưa cao.

Giải pháp quản ý, khai thác, sử dụng thủy điện theo hướng bền vững

Về quy hoạch thiết kế công trình thủy điện trên các lưu vực sông chính

Trên các lưu vực sông chính, cần sớm lập quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông để tạo khuôn khổ chung về sử dụng tổng hợp tài nguyên nước trong lưu vực cũng như xây dựng các nguyên tắc phân bổ nguồn nước cho các ngành. Dựa trên khuôn khổ và những nguyên tắc sử dụng tổng hợp tài nguyên nước, sử dụng nước cho phát điện được xác định trong quy hoạch lưu vực sông, cần rà soát các quy hoạch thủy điện trên các lưu vực sông chính theo các tiêu chí và khuôn khổ pháp lý chung của lưu vực, từ đó đề xuất điều chỉnh hoặc bổ sung quy hoạch thủy điện. Các phương án quy hoạch cần đáp ứng đầy đủ yêu cầu về sử dụng tổng hợp tài nguyên nước theo các nguyên tắc ưu tiên đã xác định trong quy hoạch tài nguyên nước và bảo đảm “bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường”. Trong đó, cần đưa yêu cầu bảo đảm nước duy trì dòng chảy môi trường là mục tiêu, từ đó xác định nhiệm vụ của từng công trình trong việc đáp ứng yêu cầu sử dụng tổng hợp, đa mục tiêu nguồn nước cho các ngành.

Trong thiết kế, cần xem xét việc lựa chọn thông số thiết kế hợp lý cho từng hồ chứa thủy điện và toàn hệ thống hồ chứa trên lưu vực sông, phải bảo đảm các yếu tố như: Hồ chứa sử dụng tổng hợp nguồn nước cho phát điện, phòng lũ, cấp nước, duy trì dòng chảy môi trường cho hạ du. Tuy ưu tiên cho phát điện, nhưng phải đảm bảo nhu cầu dùng nước của các ngành khác và hiệu quả sử dụng tổng hợp nguồn nước của các hồ chứa; hệ thống thủy điện bậc thang cần được vận hành hợp lý để phối hợp dung tích các hồ chứa trên toàn hệ thống cho phát điện, phòng lũ, cấp nước, duy trì dòng chảy cho hạ du sao cho đạt được hiệu quả sử dụng tổng hợp nguồn nước của toàn hệ thống một cách tối ưu. Các thông số cần quan tâm xem xét, lựa chọn là: dung ích hữu ích, dung tích chết và dung tích phòng lũ, mực nước dâng bình thường, mực nước chết và mực nước gia cường, trong đó cần nghiên cứu, xem xét kỹ để tăng khả năng tận dụng lượng nước trong phần dung tích chết của các hồ đã xây dựng trong các điều kiện khô hạn, thiếu nước.

Về quản lý, vận hành các công trình thủy điện và hệ thống thủy điện bậc thang

Cần xem xét quy trình vận hành cũng như quy trình sử dụng nước cho phát điện và cho các mục đích khác để có thể sử dụng hiệu quả hơn lượng nước trong hồ, kể cả sử dụng phần dung tích chết của một số hồ đã xây dựng. Quy trình vận hành của các hồ chứa lớn, quan trọng phải được thẩm định và phê duyệt của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

Đối với các công trình thủy điện đã xây dựng, nhưng không áp dụng các biện pháp duy trì dòng chảy tối thiểu cho hạ du sau công trình, khi thực hiện cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước cần có các quy định cụ thể nhằm đảm bảo duy trì dòng chảy tối thiểu sau công trình.

Thời gian qua, chúng ta chỉ chú trọng đến đầu tư xây dựng nhiều công trình thủy điện mới để nâng cao sản lượng điện hàng năm, chưa quan tâm đúng mức đến việc quản lý, vận hành các công trình thủy điện đã xây dựng để đạt hiệu quả sử dụng tổng hợp cao. Với tốc độ khai thác thủy điện vừa và lớn như hiện nay, có thể thấy trong 10 – 15 năm tới, các vị trí có tiềm năng thủy điện lớn sẽ được khai thác hết. Do vậy, cần tập trung vào khắc phục các tồn tại trong quản lý, vận hành và đầu tư cho quản lý vận hành các hệ thống thủy điện bậc thang, xây dựng các quy trình vận hành tối ưu liên hồ chứa để khai thác tối đa nguồn lợi do công trình đem lại.

Ngoài các giải pháp trên, trong quy hoạch, thiết kế và quản lý vận hành các công trình thủy điện và hệ thống thủy điện bậc thang, cần phải lấy hiệu quả sử dụng tổng hợp nguồn nước làm gốc, xem xét nhu cầu nước cho hệ thống sinh thái, bảo vệ môi trường trong quy hoạch và cấp nước cho phát triển kinh tế - xã hội khi sử dụng nước trong thủy điện. Ngoài ra, xác định và khắc phục những tồn tại trong thiết kế các công trình thủy điện để nâng cao hiệu quả sử dụng tổng hợp nguồn nước trong thủy điện và các ngành sử dụng nước khác ở thượng và hạ du. Bảo đảm quyền tiếp cận, sử dụng nước; tăng cường phối hợp giữa thủy điện với các ngành dùng nước khác để nâng cao hiệu quả sử dụng tổng hợp nguồn nước của các công trình và hệ thống công trình thủy điện.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Nghệ An: Ông Đậu Quang Vinh giữ chức vụ Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh Nghệ An
Trong hai ngày 29-30/12, tại tỉnh Nghệ An, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Nghệ An (Liên hiệp Hội tỉnh Nghệ An) đã tổ chức thành công Đại hội Đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2025-2030. Ông Đậu Quang Vinh đã được Đại hội tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh khoá VII, nhiệm kỳ 2025-2030.
WFEO: Kênh kết nối cộng đồng kỹ sư quốc tế và cơ hội tham gia của cộng đồng kỹ sư Việt Nam
Trong một thế giới ngày càng phụ thuộc vào các giải pháp kỹ thuật để giải quyết những thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, đô thị hóa và chuyển đổi số, vai trò của các kỹ sư trở nên then chốt hơn bao giờ hết. Đứng sau sức mạnh tập thể của hơn 30 triệu kỹ sư trên toàn cầu là Liên đoàn các Tổ chức kỹ sư Thế giới (World Federation of Engineering Organizations - WFEO).
Trung tâm SUDECOM nâng cao chuỗi giá trị nông nghiệp cho cộng đồng
Sáng ngày 29/12, Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Bền vững Cộng đồng các Dân tộc Miền núi (Trung tâm SUDECOM) đã tổ chức hội nghị tổng kết dự án “Hỗ trợ mô hình sinh kế và nâng cao năng lực tiếp cận chuỗi giá trị nông nghiệp cho cộng đồng nhằm góp phần tăng thu nhập và bình đẳng giới tại 3 xã Lương Thịnh, Thác Bà, Yên Bình, tỉnh Lào Cai”.
VUSTA nhận Bằng khen của Bộ Ngoại giao vì những đóng góp tiêu biểu trong công tác đối ngoại nhân dân 2025
Phát biểu tại Hội nghị tổng kết công tác đối ngoại nhân dân 2025, Phó Chủ tịch VUSTA Phạm Ngọc Linh khẳng định đội ngũ trí thức KH&CN đã có những đóng góp tích cực vào những thành tựu chung của công tác đối ngoại nhân dân 2025. VUSTA cam kết tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong đối ngoại nhân dân, góp phần thúc đẩy hợp tác quốc tế về KH&CN, ĐMST&CĐS trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
An Giang: Hoàn thiện khung hệ giá trị văn hóa trong kỷ nguyên mới
Ngày 26/12, Trường Chính trị Tôn Đức Thắng phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy tổ chức hội thảo: “Xây dựng và phát huy hệ giá trị văn hóa, con người An Giang thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong kỷ nguyên mới”. TS. Hồ Ngọc Trường - Tỉnh ủy viên, Hiệu trưởng Trường Chính trị Tôn Đức Thắng; Bà Nguyễn Thị Hồng Loan - Phó Trưởng Ban TG&DV Tỉnh ủy đồng Chủ trì hội thảo
Đảng, Nhà nước tặng quà nhân dịp chào mừng Đại hội XIV của Đảng và Tết Bính Ngọ
Thủ tướng Phạm Minh Chính vừa ký công điện số 418 ngày 28/12/2025 về việc tặng quà của Đảng, Nhà nước nhân dịp chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 cho người có công với cách mạng, các đối tượng bảo trợ xã hội, hưu trí xã hội và đối tượng yếu thế khác.
Lào Cai: Hội nghị triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026
Chiều 28/12, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh tổ chức hội nghị Ban Chấp hành nhằm đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2025; thảo luận, thống nhất phương hướng nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 và quyết định một số nội dung theo thẩm quyền.