Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 17/12/2010 21:27 (GMT+7)

Một số kinh nghiệm và thành công của chính sách “tam nông” ở Trung Quốc

Mọi chính sách đều xuất phát từ lợi ích nông dân

Nông thôn Trung Quốc hiện nay đang có sự đổi mới sâu sắc. Kể từ năm 2007, Chính phủ Trung Quốc bắt đầu tiến hành một loạt biện pháp nhằm triển khai công cuộc xây dựng nông thôn xã hội chủ nghĩa mới. Nông dân là chủ đề then chốt của “Tam nông”. Cách đây hơn 2 năm, chính sách cải cách nông thôn đã được Quốc hội thông qua, theo đó tăng 14,2% chi tiêu để tăng cường phát triển khu vực nông thôn. Điều này có nghĩa chính phủ đã chi 42 tỉ USD để xây dựng các vùng “nông thôn xã hội chủ nghĩa” và cải thiện tình cảnh nghèo khổ của 745 triệu nông dân ở các miền quê.

Tiếp đến là điều tiết lao động nông nhàn, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phát triển đô thị nông thôn, cải cách chế độ hộ tịch, phát triển văn hóa giáo dục ở nông thôn, không ngừng nâng cao trình độ cho nông dân. Ngoài ra, còn đẩy mạnh đổi mới nông thôn, rút ngắn khoảng cách về giáo dục, y tế và an sinh xã hội giữa nông thôn và thành thị. Có chính sách phù hợp nhằm thu hút trí thức trẻ về nông thôn, đồng thời chuyển dịch cơ cấu lao động một cách hài hòa.

Một trong những chính sách được sinh viên xuất thân từ nông thôn quan tâm nhất hiện nay là giúp những sinh viên có hoàn cảnh khó khăn chi trả khoản vay khi còn theo học đại học, nếu họ nhận công tác tại những vùng sâu, vùng xa và kém phát triển.

Chính phủ đã và đang khuyến khích nông dân và chính quyền địa phương đầu tư vào nông nghiệp. Đồng thời có cách chính sách ưu đãi cho đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp, cải tiến hiệu quả vốn nước ngoài trong nông nghiệp, tăng cường tái sử dụng tài nguyên, quy định việc khai thác các nguồn tài nguyên chưa tái chế, giảm thiểu thất thoát trong sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh chương trình giảm nghèo. Ngoài ra, còn tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng ở nông thôn, đầu tư các khoản cho vay tín dụng vào sản xuất nông nghiệp.

Chính phủ rất cẩn trọng các biện pháp kiểm soát giá cả đầu vào, đặc biệt là phân bón, buộc chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm về việc thỏa mãn yêu cầu đầu vào của nông nghiệp và duy trì giá đầu vào ổn định. Sau đó đưa khoa học công nghệ vào nông nghiệp, xây dựng và phát triển các học viện nghiên cứu về nông nghiệp…

Cho nhiều, thu ít

Có thể nói, chính sách tam nông của Trung Quốc đang bước vào giai đoạn phát triển nhất trong lịch sử. Sản xuất lương thực, thu nhập của nông dân tăng hằng năm. Ngân sách trung ương dành hỗ trợ cho các dự án tam nông không ngừng tăng, năm 2007 đạt 3.917 tỉ nhân dân tệ (1 nhân dân tệ tương đương 2.400 đồng Việt Nam). Bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp có những bước tiến mới, bùng nổ phát triển tổ chức hợp tác nông dân chuyên sâu, thúc đẩy phát triển theo phương thức “nhất thôn nhất phẩm” (mỗi thôn một sản phẩm).

Phát triển các doanh nghiệp nông nghiệp là một giải pháp để Trung Quốc thực hiện chính sách tam nông hiệu quả. Tính đến cuối năm 2007 Trung Quốc có khoảng gần 155.000 doanh nghiệp kinh doanh nông sản, kéo theo sự phát triển của hơn 90,9 triệu hộ sản xuất. Chính sách giáo dục “lưỡng miễn nhất bổ” (miễn phí sách vở, các khoản tạp phí và trợ cấp tiền sinh hoạt phí cho học sinh nội trú thuộc các gia đình khó khăn) đã trung sức gánh vác trách nhiệm cho 150 triệu gia đình có con đang học tiểu học, trung học.

Để đạt được kết quả trên, chính phủ Trung Quốc đã thi hành một loạt biện pháp theo phương châm “cho nhiều, thu ít, tạo nhiều việc làm”, mở rộng con đường giúp nông dân tăng thu nhập. Những biện pháp đó bao gồm: không ngừng tăng thêm sự chi viện của nhà nước cho phát triển nông nghiệp; ngày càng trú trọng tới khu vực nông thôn về các mặt tài chính, thu thuế; tích cực đưa ra các biện pháp, chính sách để giảm bớt khó khăn về tài chính cho các huyện, xã khu vực nông thôn, tăng thêm nguồn ngân sách cho phát triển giáo dục, y tế, văn hóa đối với khu vực nông thôn. Tiếp tục hoàn thiện và tăng cường chính sách trợ cấp đối với nông dân. Cố gắng khai thác tiềm lực, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, căn cứ theo nhu cầu của thị trường, đưa ra các biện pháp thích hợp cho từng khu vực để điều chỉnh và nâng cao hiệu quả sản xuất. Bên cạnh đó, đẩy mạnh phát triển xí nghiệp hương trấn, nhanh chóng đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; phát triển các ngành sản xuất tập trung lao động cao và dịch vụ ở nông thôn, tăng cường thu hút nguồn lao động nông thôn làm việc tại địa phương. Tích cực giải quyết và xóa bỏ những quy định không hợp lý, dần dần xây dựng chế độ việc làm có sự cạnh tranh công bằng và thị trường lao động thống nhất giữa thành thị và nông thôn.

Nền nông nghiệp hiệu quả cao

Công nghiệp hóa nông nghiệp, trồng rau bằng vi tính, tiếp thị sản phẩm nông nghiệp qua mạng internet, đó là những kỳ tích mà trước đây có nằm mơ nông dân Trung Quốc cũng không dám nghĩ tới. Vậy mà giờ đây tại các tỉnh như Quảng Đông, Phúc Kiến, Thiên Tân, những chuyện như vậy đã xuất hiện tương đối phổ biến. Người nông dân đời nay qua đời khác quen dựa vào ông trời cuối cùng đã “lột xác”, rửa chân lên bờ nghe điện thoại di động và gọi đặt hàng. Một tầng lớp không phải công nhân cũng không phải nông dân ra đời, đó là công nhân nông nghiệp. Điều kỳ diệu ấy có được nhờ chính sách tam nông.

Có một điều dễ nhận thấy là nhờ thực hiện chính sách tam nông, nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc thực sự khởi sắc, trái với những cảnh báo tồi tệ trước khi gia nhập WTO. Sản xuất rau quả và thịt tăng nhanh, hiện là một trong những nước sản xuất lớn nhất các mặt hàng như thịt heo (46% sản lượng thế giới), bông sợi (24%), trà (23%). Sản xuất thủy hải sản tăng gấp ba lần trong 10 năm, chiếm 1/3 sản lượng thế giới. Trung Quốc đứng thứ 8 trên thế giới về xuất khẩu nông sản.

Đó là kết quả của một số điều chỉnh hợp lý của Chính phủ Trung Quốc thức thời khi gia nhập WTO nhằm giúp nông dân đứng vững. Một tháng rưỡi sau ngày gia nhập WTO, ngành nông nghiệp Trung Quốc đã nhìn thấy tận mắt những bất lợi của nông dân. Cơ bản là việc phải dỡ bỏ các hàng rào thương mại và mở cửa thị trường trong nước. Khó khăn tăng thêm trong việc kinh doanh các mặt hàng nông sản và sức ép về hệ thống phân phối. Vào thời điểm khi Trung Quốc đã là thành viên của vWTO, giá cả của các mặt hàng lúa mì, đậu nành, bắp, vải sợi, dầu thực phẩm và đường cao hơn mức giá thế giới từ 10 đến 70%. Trong khi đó, thịt, rau quả và hải sản thấp hơn mức giá thế giới 40 - 80% nhưng lại gặp khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu về sự đa dạng, mẫu mã, hương vị và chế biến. Từ cán cân thuận lợi và bất lợi đó, Trung Quốc đã tìm ra giải pháp: Tái cơ cấu nông nghiệp cũng như việc xuất nhập khẩu nông sản.

Do có nguồn lao động dồi dào nhưng lại không có được diện tích đất trồng tương ứng, Trung Quốc thực hiện kế hoạch phát triển lương thực trên quy mô lớn, nhằm nâng cao khả năng sản xuất nông nghiệp; tăng nhập khẩu lúa mỳ, ngũ cốc, cây lấy dầu, cây chế biến đường, đậu nành, bông; đẩy mạnh xuất khẩu rau quả, hoa màu và các sản phẩm rau quả có tỉ trọng lao động cao. Tập trung vào làm vườn, nuôi trồng thủy sản, đậu nành, chăn nuôi bò sữa, lương thực và các nguồn thực phẩm khác. Từ đó, quy hoạch nhiệm vụ chính tập trung vào sản xuất lúa gạo chất lượng cao ở sông Hoàng Hà và khu vực Huaihai, sản xuất bắp và đậu nành ở khu vực Đông Bắc và phái đông khu vực Nội Mông, sản xuất bông ở Thiên Tân, thịt cừu và bê ở đồng bằng trung tâm, sản xuất bò sữa ở miền Bắc, trồng cam và hạt cải dầu ở Dương Tử… Tiêu chuẩn chất lượng của hệ thống sản xuất và kiểm tra được xây dựng nhằm đảm bảo chất lượng và độ an toàn của các sản phẩm nông nghiệp.

Ngoài việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất, Trung Quốc còn thúc đẩy cải tổ việc quản lý nông nghiệp và hệ thống phân phối sản phẩm. Điều này còn quan trọng hơn việc tăng tính cạnh tranh của sản phẩm. Nhờ một loạt chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp của chính phủ, việc giảm diện tích canh tác liên tiếp trong nhiều năm qua đã dừng lại. Thu nhập của nông dân tăng rõ rệt. Nông nghiệp đang được điều chỉnh cơ cấu sản xuất để các sản phẩm có tính cạnh tranh hơn. Nhằm hỗ trợ nông dân. Chính phủ Trung Quốc đang nỗ lực đổi mới cách phát triển nông nghiệp - nông thôn, cố gắng đưa các giống mới chất lượng cao vào sản xuất và hỗ trợ tìm kiếm thị trường mới cho nông sản.

Kinh nghiệm thực hiện chính sách tam nông của Trung Quốc là bài học cho chúng ta trong chiến lược đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, nhằm rút ngắn khoảng cách giàu - nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nông dân.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Đắk Lắk: Trí thức khoa học và công nghệ - góp phần phát triển nhanh, bền vững của tỉnh
Sau hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên, không gian phát triển mới mở ra nhiều cơ hội, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ. Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2026–2031 là dấu mốc quan trọng, khẳng định quyết tâm tập hợp, phát huy trí tuệ đội ngũ trí thức, đóng góp vào sự phát triển nhanh và bền vững của tỉnh.
Vĩnh Long: Thúc đẩy ứng dụng công nghệ sinh học trong phát triển bền vững
Chiều ngày 31/7/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Môi trường cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Ứng dụng công nghệ sinh học trong phát triển bền vững tỉnh Vĩnh Long: Kết nối nghiên cứu, chuyển giao và đổi mới sáng tạo”
Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 7/2026: xem xét nhiều nội dung quan trọng
Chiều ngày 31/7/2026, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức hội nghị thường kỳ để thảo luận và cho ý kiến nhiều nội dung quan trọng về công tác tổ chức xây dựng Đảng, kiểm tra, giám sát, phát triển đảng viên và chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Cụm thi đua Liên hiệp hội các tỉnh Nam Bộ sơ kết công tác thi đua 6 tháng đầu năm 2026
Chiều ngày 30/7/2026, tại tỉnh Đồng Tháp, Cụm thi đua Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật các tỉnh Nam Bộ tổ chức Hội nghị sơ kết công tác thi đua, khen thưởng 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị do TTND.TS.BS Ngô Văn Tán, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long, Cụm trưởng Cụm thi đua chủ trì.
Đắk Lắk tổ chức thành công Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 – 2031
Sáng 30/7, tại Khách sạn ELEPHANTS (tỉnh Đắk Lắk), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp Hội) long trọng tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 – 2031 với sự tham dự của 250 đại biểu đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, các hội thành viên cùng lãnh đạo các sở, ban, ngành và địa phương trong tỉnh.
Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 thành công tốt đẹp
Trong hai ngày 28-29/7, Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã diễn ra trọng thể với chủ đề “Tập hợp, đoàn kết, phát huy sức mạnh trí tuệ của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ; đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động, xây dựng Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh vững mạnh, góp phần xây dựng tỉnh Tuyên Quang phát triển toàn diện, bền vững”.