Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 01/03/2012 22:30 (GMT+7)

Một số giải pháp đổi mới công tác quản lý chất lượng giáo dục ở trường đại học

Nguyên nhân cơ bản được chỉ ra một cách khá nhất quán cho những hạn chế nói trên là “việc quản lý (QL) nhà nước về GDĐH còn nhiều bất cập, trì trệ”. Vì thế, cần phải đổi mới toàn diện và mạnh mẽ GDĐH Việt Nam mà đổi mới QL GDĐH là khâu đột phá. Trong đổi mới QL GDĐH phải quan tâm đúng mức đến đổi mới công tác quản lý CL (QLCL) giáo dục.

1. Quan niệm về QLCL

Theo Bộ Tiêu chuẩn QLCL quốc tế ISO 9000:1994: “CL là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho một thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã được công bố hoặc còn tiềm ẩn”. Như vậy, CL sản phẩm là tập hợp các thuộc tính bản chất của hàm chứa trong sản phẩm ấy không những đáp ứng những yêu cầu, những mục tiêu và chuẩn mực CL đã được xác định, được “công bố” rộng rãi mà còn là sự đáp ứng các nhu cầu sử dụng “tiềm ẩn” của khách hàng (người sử dụng sản phẩm) trong những điều kiện cụ thể (và được đo đếm bằng mức độ thỏa mãn khách hàng).

Tiêu chuẩn Việt Nam về CL “TCVN-5814-94” định nghĩa: “QLCL là tập hợp những hoạt động của chức năng QL chung, xác định chính sách CL, mục đích, trách nhiệm và thực hiện chúng thông qua các biện pháp như lập kế hoạch CL, điều khiển và kiểm soát CL đảm bảo Cl và cải tiến Cl trong khuôn khổ hệ thống CL”. Theo đó, khái niệm QLCL được xem xét ở những tiêu chí sau: 1) QLCL bao gồm hệ thống các biện pháp nhằm đảm bảo CL sản phẩm, thỏa mãn nhu cầu khách hàng với hiệu quả kinh tế-xã hội cao nhất; 2) QLCL được tiến hành ở tất cả quá trình hình thành CL sản phẩm theo chu kỳ: nghiên cứu, thiết kế-sản xuất-tiêu dùng và bảo quản; 3) QLCL là trách nhiệm của tất cả các cấp từ cán bộ lãnh đạo tới mọi thành viên trong tổ chức.

QLCL có 3 chức năng chính: chức năng hoạch định CL, chức năng điều khiển CL và chức năng kiểm định đánh giá CL.

2. Các giải pháp đổi mới công tác QLCL giáo dục ở trường ĐH

2.1. Đưa hệ tiêu chuẩn QLCL ISO 9000 và phương pháp QLCL tổng thể vào trong QLCL giáo dục trường ĐH

Cùng với khoa học QLCL, các phương thức QLCL đã được hình thành và phát triển trên thế giới hơn một trăm năm qua.

Kiểm tra chất lượng(quality Inspection-QL) diễn ra ở cuối quá trình sản xuất (và cũng là nằm ngoài quá trình sản xuất) nhằm mục tiêu phát hiện và loại bỏ toàn bộ hay từng phần sản phẩm cuối cùng không đạt các chuẩn mực CL. Có thể xem đây là công việc riêng của các nhà chuyên môn hoặc thanh tra CL (ví dụ bộ phận OTK trong các dây chuyền sản xuất). Các chuẩn mực CL được quyết định từ quyền lực của các cấp QL tuyến trên, vai trò thanh tra kiểm soát cũng thuộc về họ. Người lao động được chuyên môn hóa và đóng vai trò rất thụ động, phục tùng trong quá trình lao động, theo sự QL của tuyến trên. Chiến lược kiểm soát CL phù hợp với cơ chế QL hành chính tập trung.

Kiểm soát chất lượng(Quality – Control – QC) là phương thức QLCL lấy việc kiểm soát tất cả các khâu của quá trình sản xuất-dịch vụ làm công cụ chính để giải quyết vấn đề CL, chứ không phải là khâu kiểm tra ở khâu cuối cùng. Các chức năng QL đã được thể hiện trong suốt quá trình như trong chiến lược kiểm tra CL. Đây là bước tiến của khoa học QLCL, chuẩn bị cho sự xuất hiện của phương thức kiểm soát CL ở trình độ cao hơn.

Bảo đảm chất lượng(Quality Assurance – QA) khác kiểm soát CL ở chỗ, nó chú trọng việc tiêu chuẩn hóa CL và theo đó quá trình sản xuất được QL bằng hệ thống các quy trình đặt trong hệ thống đảm bảo CL. Hệ thống này cho phép kiểm soát toàn diện quá trình, chỉ rõ quá trình sản xuất, dịch vụ phải được tiến hành như thế nào, với những chuẩn mực CL nào. Trách nhiệm bảo đảm và kiểm soát CL được giao cho mỗi người làm việc trong quá trình chứ không chỉ là việc của thanh tra ở tuyến trên hoặc từ bên ngoài. Hệ tiêu chuẩn ISO 9000 là sản phẩm khoa học QLCL tiêu biểu của chiến lược này, nhằm đảm bảo với khách hàng, với xã hội rằng hệ thống QLCL đã được thiết lập theo hướng chuẩn hóa, do đó có thể cam kết đảm bảo những tiêu chuẩn CL sản phẩm theo chính sách CL đã được công bố.

Quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management-TQM)là chiến lược QLCL tổng hợp, vừa dựa trên thành tựu tiêu chuẩn hóa, quy trình hóa quá trình QL của ISO 9000 nhằm đảm bảo CL, vừa dựa trên thành tựu của các tuyến QL nhân văn: phát huy yếu tố con người và sự sáng tạo trong quá trình lao động. Đây là sự phát triển cao nhất của khoa học QLCL, trên cơ sở coi trọng việc tạo ra nền văn hóa CL, trong đó mục đích hoạt động của mọi thành viên trong tổ chức đều hướng về CL nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng, đồng thời, mọi thành viên đều được lôi cuốn tham gia tích cực vào quá trình cải thiện CL liên tục nhằm cung cấp cho xã hội những sản phẩm và dịch vụ với CL cao.

Mối quan hệ giữa các phương pháp QLCLmang tính kế thừa và phát triển. Hệ thống QLCL theo Hệ tiêu chuẩn ISO 9000 trong phương pháp Đảm bảoCL là bước phát triển mới cao hơn phương pháp kiểm tra CL, nó mở ra phạm vi QLCL tới những người thừa hành. Phương pháp QLCL tổng thể lại là sự phát triển theo chiều sâu, kế thừa ISO, nâng QLCL lên tầm văn hóa CL; ở đó vai trò và yếu tố sáng tạo của con người được phát huy cao nhất. TQM là đỉnh cao của hệ thống chiến lược QLCL hiện đại.

Vì thế, đổi mới QLCL giáo dục trường ĐH đòi hỏi phải đưa hệ tiêu chuẩn QLCL ISO 9000 và phương pháp QLCL tổng thể vào trong QLCL giáo dục trường ĐH.

2.2. Tăng cường kiểm định và đánh gia CL giáo dục của trường ĐH

Kiểm định CL mang lại cho cộng đồng, đặc biệt là giới sinh viên sự đảm bảo chắc chắn một trường ĐH đã được chứng minh thỏa mãn các yêu cầu và tiêu chí đáng tin cậy và có đủ cơ sở để tin rằng trường này sẽ tiếp tục đạt các yêu cầu và tiêu chí đề ra.

Mục đích của kiểm định CL là nhằm đảm bảo đạt được những chuẩn mực nhất định trong đào tạo (ĐT), đáp ứng yêu cầu của người sử dụng nguồn nhân lực và đảm bảo quyền lợi cho người học. Ngoài ra, kiểm định còn nhằm mục đích giải trình với xã hội, với các cơ quan quyền lực hay các cơ quan, tổ chức tài trợ, cấp kinh phí. Một số không ít các tổ chức, cơ quan quan tâm đến việc trường ĐH/ngành ĐT đã được kiểm định hay chưa trước khi đưa ra quyết định tài trợ hay không tài trợ cho trường ĐH/ngành ĐT đó. Học sinh và phụ huynh, trước khi lựa chọn trường để đăng ký dự tuyển cũng cân nhắc xem nhà trường hay ngành ĐT có được kiểm định hay không.

Kiểm định chất lượng do một cơ quan hay một tổ chức chịu trách nhiệm triển khai thực hiện; có thể là kiểm định trường hay kiểm định chương trình ĐT. Đối tượng kiểm định có thể chỉ có các trường tư hay cả trường công lẫn trường tư. Kiểm định cũng có thể tự nguyện hay bắt buộc.

Quy trình kiểm định CL gồm có 3 giai đoạn:

a/ Tự đánh giá của trường/Khoa: Trường/Khoa tự đánh giá theo các tiêu chí do nhà nước hoặc hội đồng kiểm định của một nhóm các trường tự nguyện ban hành. Năm 2007, Bộ GD-ĐT ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá CL giáo dục trường ĐH. Theo Quy định này, khi đánh gia CL giáo dục trường ĐH phải dựa trên 10 tiêu chuẩn sau đây: Sứ mạng và mục tiêu của trường ĐH; Tổ chức và QL; Chương trình giáo dục; Hoạt động ĐT; Đội ngũ cán bộ QL, giảng viên và nhân viên; người học; Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ; Hoạt động hợp tác quốc tế; Thư viện, trang thiết bị và cơ sở vật chất khác; Tài chính và QL tài chính.

Tự đánh giá có ưu điểm là do chính những thành viên của nhà trường trực tiếp thực hiện. Họ là những người hiểu rõ trường ĐH/chương trình ĐT của họ hơn ai hết. Nhưng tự đánh giá thường thiếu khách quan và do những người không chuyên thực hiện.

b/ Đánh giá ngoài: một nhóm chuyên gia được ủy quyền (của nhà nước hay hiệp hội các trường ĐH) tiến hành thẩm định tính chính xác và khách quan các văn bản báo cáo kết quả tự đánh giá của nhà trường theo các tiêu chuẩn và tiêu chí đánh gia CL đã ban hành. Đánh giá ngoài là một quá trình nhằm làm tăng thêm giá trị của kết quả tự đánh giá, do các chuyên gia tốt nhất trong cùng một lĩnh vực chuyên môn triển khai thực hiện. Quá trình đánh giá ngoài nhằm làm sáng tỏ thêm những vấn đề chưa được đề cập đầy đủ trong báo cáo tự đánh giá và nhằm tăng thêm tính giá trị của chính báo cáo tự đánh giá.

c/ Công bố kết quả kiểm định: cấp chứng nhận kết quả kiểm định và công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng kết quả kiểm định. Nếu các trường ĐH quan tâm đầy đủ đến công tác kiểm định và đánh giá CL giáo dục thì việc đổi mới QLCL giáo dục mới thực sự đem lại hiệu quả cao.

2.3. Thực hiện việc phân cấp mạnh mẽ công tác QLCL giáo dục trong trường ĐH

Cần có sự phân cấp mạnh mẽ công tác QLCL giáo dục trong trường ĐH, trên cơ sở xác định rõ trách nhiệm của Ban giám hiệu nhà trường,, các phòng ban, trung tâm, các khoa ĐT, giảng viên …trong QLCL giáo dục, đồng thời phải xây dựng hệ thống văn bản chặt chẽ, chi tiết về chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban, các khoa, trung tâm trong công tác QLCL giáo dục.

2.4. Tin học hóa công tác QLCL giáo dục ở trường ĐH

Để QLCL giáo dục các trường ĐH, nhất là đối với các trường đã chuyển sang ĐT theo hệ thống tín chỉ không thể không sử dụng công nghệ thông tin. Ngay khi bắt tay vào xây dựng phần mềm QLCL giáo dục, nhiều trường có thể chưa hình dung hết các bài toán cần giải quyết. Trong quá trình triển khai sẽ phát sinh hàng loạt những vấn đề phải tiếp tục hoàn thiện để làm cho phần mềm QLCL giáo dục ngày càng tiện ích và thân thiện hơn đối với người sử dụng.

Tóm lại: Đổi mới QLCL giáo dục là một yêu cầu cấp thiết đối với các trường ĐH nhằm nâng cao chất lượng ĐT. Để việc đổi mới có hiệu quả cần thực hiện tốt các giải pháp được đề xuất ở trên./.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.