Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 05/07/2007 23:28 (GMT+7)

Một số dấu tích giao lưu văn hoá Nhật - Việt ở Hội An

Mặt khác, sự hìnht hành khu phố Nhật đã tạo nên những chuyển biến trong đời sống văn hoá tại địa phương. Đối với Đàng Trong nói chung, Hội An nói riêng, đây là sự ra đời – gia nhập của một tổ chức và quản lý hành chính mới, có những nét khác biệt so với cách thức quản lý truyền thống của các chúa Nguyễn. Những phác thảo trong bức “Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ” cho thấy ở khu phố Nhật không có hàng rào bao bọc, lính canh và súng thần công như ở khu dinh trấn. Một dãy phố với những ngôi nhà gỗ nằm tiếp giáp với các làng mạc cho thấy không gian của khu phố là không gian mở và không có các hình thức ngăn cách với các khu vực xung quanh. Trong khu vực này, các chúa Nguyễn cho phép “có quan cai trị riêng và sống theo tập tục riêng” (3). Với cách thức tổ chức và quản lý ưu đãi như vậy, có lẽ đây là kiểu một đặc khu kinh tế mở hình thành từ nhu cầu phát triển kinh tế thương nghiệp - ngoại thương tại chỗ của các chúa Nguyễn trước đây.

Sự tồn tại của khu phố Nhật với kiểu quản lý mang tính tự trị như đã đề cập là một hiện tượng xã hội mới mẻ và nó đã có tác động nhất định đến đời sống hàng ngày của cư dân địa phương. Tác động dễ thấy nhất diễn ra ở quan hệ hôn nhân – gia đình. Những cuộc hôn nhân Việt - Nhật đã được tác hợp. Những bà vợ Việt đã về chung sống với chồng trong khu phố Nhật và những bà vợ này đã giúp các ông chồng Nhật một cách đắc lực trong hoạt động mậu dịch. Việc họ đường hoàng đứng tên cùng các ông chồng Nhật giống như những gia đình Việt, Hoa khác trong bia Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật cho thấy từ thế kỷ XVII, quan hệ hôn nhân khác quốc tịch đã diễn ra khá tự nhiên ở phố Hội An. Tấm bia này cũng cho thấy những cuộc hôn nhân Nhật - Việt diễn ra khá phổ biến hơn các cuộc hôn nhân Nhật – Hoa, dù vào thời điểm bấy giờ khu phố của Hoa kiều cũng đã hình thành tại Hội An. Có thể xác định gốc Việt của các bà vợ thương nhân Nhật trong bia với các tên nôm đặc trưng như Nước, Nụ, Mặn, Nở… Có những bà vợ Việt vẫn tiếp tục giữ liên lạc và làm tròn các việc hiếu hỉ đối với gia đình nhà chồng tại Nhật sau khi chồng mất, đến nỗi một nhà nghiên cứu Nhật Bản khi phát hiện việc này đã phải thốt lên: “thực là một phụ nữ hết sức cho đáo” (4). Rất tiếc, cho đến nay, chúng ta chưa đủ điều kiện để xác nhận hậu duệ của các cuộc hôn nhân Nhật - Việt này, mặc dù chúng ta biết chắc rằng đã có những đứa con được ra đời dưới mái những gia đình Nhật - Việt tại phố Hội An. Trường hợp ông Ngô Thuận (quan), con ông Kadoya Shichirobei và bà Nguyễn Thị Diệu Thái là ví dụ. Ngoài ra, ba bia mộ thương gia Nhật tại Hội An cũng cung cấp một số thông tin cần thiết về vấn đề này. Nội dung bia cho biết chúng do các người con đứng lập cho cha với các từ xưng hô đối với người quá cô là “Khảo”, “Hiển khảo”. Mặt khác, kiểu thức trình bày nội dung các bia mộ này không có gì khác so với các bia mộ Việt, trừ phần ghi nguyên quán ở góc trên bia. Bia mộ ông Banjiro (chữ Hán là Phan Nhị Lang) có dòng chữ nhỏ bên trái ghi: “Hiếu nam Văn Công đồng phụng tự”. Có thể hiểu đây là những bia mộ do những người con trai tên là Văn, Công lập nên để thờ tự cha. Kết hợp nhiều nguồn tư liệu chúng ta không loại trừ khả năng những người con này là của một bà mẹ Việt lấy chồng Nhật. Ông này mất tại Hội An và những người con đã đứng ra làm mộ cho cha. Do tên của người này được ghi âm bằng chữ Hán là Phan Nhị Lang nên rất có thể những người con có tên trong bia sẽ lấy họ Phan. Hiện tượng dùng họ Phan, Ngô, Nguyễn ở một số hậu duệ Nhật - Việt là một thực tế cần lưu ý khi nghiên cứu quan hệ hôn nhân – gia đình tại Hội An.

Giao lưu văn hoá Nhật - Việt, Việt - Nhật cũng diễn ra khá sâu sắc ở lĩnh vực tôn giáo – tín ngưỡng. Tấm bia Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật cho thấy một số Nhật kiều ở Hội An theo đạo Phật với các đạo hiệu bắt đầu bằng chữ Đạo, Viên giống như người Việt. Kiểu đạo hiệu giống nhau như thế chứng tỏ họ cùng chung một đạo phái. Còn lại, những người khác ở Nhật Bản dinh (Hội An) hoặc ở Nhật Bản có tên trong bia Phổ Đà cho thấy họ là những người sùng mộ đạo Phật và rất tín ngưỡng Quán Thế Âm Bồ Tát. Vì vậy, họ đã góp tiền của để xây dựng cảnh Phật Phổ Đà ở động Hoa Nghiêm – Non Nước. Phổ Đà chính là nơi tụ đạo của Bồ Tát Quán Thế Âm, vị bồ tát chuyên cứu khổ cứu nạn, nhất là đối với những tai nạn trên biển. Nét tín ngưỡng này rất gần gũi với cộng đồng người Việt tại Hội An, những người tiếp xúc nhiều với biển.

Việc phát triển đạo Thiên chúa cũng được thực hiện thông quan quan hệ hôn nhân – gia đình ở khu phố Nhật tại Hội An. Bên cạnh những thương nhân Nhật theo đạo phật còn có một bộ phận khác theo đạo thiên chúa. Tư liệu của linh mục Alexandre de Rhodes cho biết, tại khu phố Nhật (Hội An) có một số thương nhân Nhật theo đạo Thiên chúa lấy những bà vợ bản xứ không có đạo. Việc thuyết phục các bà này từ bỏ tín ngưỡng của mình để theo đạo là một việc làm không phải dễ dàng. Các ông chồng Nhật đã phải nhờ vào các giáo sĩ. De Rhodes ghi: “Tàu Tây (Tây Ban Nha – ND) đã trẩy đi rồi thì tôi mừng lễ phục sinh trong tỉnh Quảng Nam , có rất đông giáo dân đến làm nhiệm vụ trong những ngày thánh. Từ đó tôi trở lại thành phố người Nhật gọi là Hội An (nguyên bản ghi Faifo). Ở đây Inhaxu rất thành công trong việc làm cho mấy người lương dân lấy chồng người Nhật có đạo. Những ông chồng này không sao làm cho các bà bỏ dị đoan được. Trong ít ngày Inhaxu đã thành công” (5). Dù chưa đủ tư liệu để tìm hiểu kỹ quá trình giao lưu Nhật - Việt ở lĩnh vực tôn giáo – tín ngưỡng tại Hội An vào thế kỷ XVII, nhưng qua một số thông tin ít ỏi ở trên chúng ta có thể hình dung được phần nào mức độ và qui mô của quá trình này. Sự ảnh hưởng qua lại hai chiều về tôn giáo – tín ngưỡng trong các gia đình Nhật - Việt là một thực tế lịch sử. Một số thương nhân Nhật đã chịu ảnh hưởng của các bà vợ bản xứ về tôn giáo – tín ngưỡng và ngược lại. Tư liệu cũng cho thấy quá trình này diễn ra một cách êm thấm, tự nhiên, không cưỡng ép.

Do trải qua thời gian hơn 300 năm, kể từ khi phố Nhật ở Hội An ngưng hoạt động, các bằng chứng về quan hệ giao lưu – trao đổi kinh nghiệm, công nghệ Nhật - Việt tại Hội An đã chìm sâu vào ký ức của cư dân địa phương. Tuy vậy, trong thời gian gần đây, chúng tôi cũng đã may mắn tìm thấy một ít vết tích vật thể, phi vật thể về chúng.

Trên phương diện vật thể, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy trong lòng đất Hội An nhiều mảnh gốm sứ Hizen (Nhật Bản) có niên đại thế kỷ XVII. Một số đồ sứ Hizen sản xuất ở Nhật Bản vào thế kỷ XVII hiện vẫn được bảo quản trong một số gia đình ở Hội An. Cùng với đồ gốm sứ, tại Hội An cũng đã phát hiện một lượng lớn tiền đồng Nhật Bản có khung niên đại thế kỷ XVII trùng với thời điểm phát triển thịnh vượng của khu phố Nhật trước đây.

Thích Đại Sán đến Hội An vào năm 1695, là lúc phố Nhật đã suy tàn, nhưng theo như ghi chép, vẫn có người đem đến biếu ông “một ít rau cải Nhật Bản” (6). Chúng tôi chưa xác định được đó là loại rau gì, nhưng chắc chắn nó có nguồn gốc Nhật Bản và được gieo trồng ở Hội An.

Tư liệu dân gian tại địa phương còn cho biết sự có mặt của loại “tương Nhật Bản”. Đó là một loại tương phân biệt với tương Tàu (Trung Hoa), tương ta (Việt). Các nhân chứng cao tuổi cho biết, loại tương này cũng làm bằng đậu nành, nếp, muối. Mỗi lần làm khoảng 2 lít nước, không làm thành từng vại lớn. Khi ăn tương có mùi thơm, các hạt đậu cong, không nát.

Kết quả điều tra tư liệu dân gian cũng đã cho thấy hiện nay tại địa phương vẫn còn dùng tên gọi “trính Nhựt” để chỉ một kết cấu kiến trúc trong các ngôi nhà cổ Hội An. Tên gọi này Nguyễn Bạt Tuỵ ghi lại đầu tiên trong bài khảo cứu “Những ngôi nhà xưa ơ Quảng Nam” năm 1961 (7). Kiểm tra tính xác thực thông tin trên, chúng tôi đã dùng phiếu điều tra để phỏng vấn các thợ mộc cao tuổi tại địa phương. Chính trên mười người làm nhân chứng đã dùng tên gọi “trính Nhựt” hoặc “trính Nhựt Bổn” để chỉ cho cùng một kết cấu kiến trúc do chúng tôi đưa ra. Dù đó có phải là kết cấu mang tính đặc trưng phong cách kiến trúc Nhật hay không thì cách gọi như vậy cũng rất có ý nghĩa về giao lưu văn hoá, giao lưu công nghệ - kỹ thuật. Có thể đó là một kết cấu kiến trúc được người Nhật sử dụng rộng rãi tại Hội An trước đây cư dân Hội An đã tiếp thu nó trực tiếp từ người Nhật.

Về phương diện phi vật thể, một bài vè dùng để hát ru con hoặc để trẻ em địa phương hát trong lúc vui chơi còn lưu giữ một đoạn phản ánh thực tế về sự có mặt của các mặt hàng Nhật Bản tại Hội An trước đây:

Hàng trầu hàng cau, là hàng con gái

Hàng bánh hàng trái, là hàng bà già

Hàng bông hàng hoa, là hàng Nhựt Bổn…

Di tích chùa Cầu (cầu Nhật Bản) và truyền thuyết khá phổ biến tại Hội An nói về việc trấn yểm quái vật có đầu ở Ấn Độ, đuôi ở Nhật Bản đã nói lên thực tế về sự giao lưu văn hoá giữa Hội An và Nhật Bản trước đây.

Phủi lớp bụi thời gian hơn 300 năm, chúng tôi may mắn tìm thấy một số dấu tích, di tích vật thể, phi vật thể liên quan đến việc cư trú của người Nhật và quan hệ giao lưu Nhật - Việt, Việt - Nhật hiện đang được bảo lưu tại địa phương. Cùng với các nguồn tư liệu khác, các dấu tích, di tích này góp phần minh chứng cho sự phát triển mạnh mẽ của thương cảng Hội An trong quá khứ, đặc biệt là hoạt động giao lưu - hội nhập văn hoá. Chúng đồng thời cũng cho thấy rằng, do được xây dựng trên nền tảng hữu nghị và thiện chí, nên quan hệ giao lưu - hội nhập văn hoá Nhât - Việt đã thực sự trở thành một động lực thúc đẩy hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội tại chỗ phát triển, đã để lại những dấu ấn đậm nét, góp phần làm phong phú diện mạo và định hình tính độc đáo về văn hóa của vùng đất Hội An.

(1)   Theo bức “Giao chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ” hiện lưu trữ ở đền Jomyo thành phố Nagoyo, Nhật Bản.

(2)   Bia này hiện ở Động Hoa Nghiêm, Ngũ Hành Sơn, nay thuốc thành phố Đà Nẵng.

(3)   Critoforo Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, tr92.

(4)   Ogura Sadao,Người Nhật thời Châu Ấn thuyền , Tokyo , 1985, tr97.

(5)   Alexandre de Rhodes,Hành trình và Truyền giáo , Uỷ ban đoàn kết công giáo TPHCM xuất ản, 1994, tr183.

(6)   Thích Đại Sán,Hải ngoại kỷ sự. Viện Đại học Huế xuất bản, 1963, tr169

(7)   Tạp chí Văn hoá nguyệt san số 60, Sài gòn xuất bản, tháng 5 – 1961.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp Hội Việt Nam tham dự Đại hội Hội Hàng không - Vũ trụ Việt Nam lần thứ V
Sáng 18/7, tại Hà Nội, Hội Hàng không - Vũ trụ Việt Nam đã long trọng tổ chức Đại hội lần thứ V, nhiệm kỳ 2026-2031. Đây là sự kiện chính trị quan trọng nhằm đánh giá kết quả hoạt động nhiệm kỳ 2020-2026, xác định phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ mới và kiện toàn tổ chức lãnh đạo của Hội.
Chuẩn hóa nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc vì sự phát triển bền vững của y học tái tạo
Sáng 18/7, tại Khách sạn Melia Hà Nội, Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Tế bào (tổ chức KH&CN trực thuộc VUSTA) phối hợp cùng Longevity Medical System (LMS) và Báo Sức khỏe và Đời sống tổ chức hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề “Tế bào gốc: Từ nghiên cứu lâm sàng đến ứng dụng thực tiễn”.
Khai mạc hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8
Với chủ đề “Tự động hoá thông minh - công nghệ chiến lược của Kỷ nguyên số”, hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8 (VCCA 2026) đã khai mạc sáng 16/7 tại Trường Đại học Quy Nhơn (tỉnh Gia Lai). Sự kiện quy tụ gần 400 trăm nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp trong nước và quốc tế nhằm chia sẻ các xu hướng công nghệ chiến lược.
Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới"
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới". Trân trọng giới thiệu toàn văn Chỉ thị.
Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.